BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐAI HỌC SƯ PHAM TP. HCM KHOA SINH TỐNG XUÂN TÁM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH: SINH HỌC CHUYÊN NGÀNH : PPGD SINH HỌC TsCy Người hướng dẫn khoa học : ; NGUYEN THỊ VÂN THƯ-=VIỆN | Tour tường Sol Tôm; Sas te, wer ve .tư« atin v | THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ~ NĂM 2001 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP. GVHD : NGUYEN TH] VAN LOZ CAM ON đãi xin chin thanh edm on : - €8 UGUYEN THF VAN, giảng oiêm bộ môm (Phuong Dhuip giảng day sink hee, khoa Sink, tring DHSD TD.FOOM, đã tan tinh kướng dẫn tôi hoàn thank luận oan nay. - C8 DONG THI AGO LAN, ca TRAR THA SA, 06 HUYHI THF CAM HANH, cả DHAM TH AZ UFET, Qiáo oiên bệ man sinh, trường DITH Luong tan Can, đã tận tinh giip dé tôi trong quá trinh thựcc nghiệm dé tài nay.
- 9à TRAN THF BUC, Qiảng vien bộ môn Phutong Dhip giảng day sink học, Khóa Sink, trường (92087) TFD.HOM, đã gáp ý oa chi bảo tôi trong quá trink tực kiệm luận oan màu. 2 BAU CHA HAIEM KHOA SIUM oà lập thể các Thay, © trong khoa đành, tring DUSD - 772.204, đã tan tink day dé oa động vién tải hoan thank luận odn nay. Sinh oién Ting Buan Fam SVTH : TONG XUAN TAM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYEN THỊ VÂN BANG CAC CHU VIET TAT e CN e Công nguyên se DHGQVD © Day học giải quyết vấn dé « ĐC e Đối chứng e TN e Thuc nghiém e GV « Giáo viên e HS e Học sinh ; se PTTH © Phổ thông trung học e XH se Xã hội se NST e Nhiễm sắc thể e XDTT e Xác định tính trạng e KG se - Kiểu gen e KH e Kiéu hinh e BDTH © Biến dị tổ hợp « LKG e Liên kết gen e HVG e Hoán vị gen e R/g e Rudi giấm «e SGK e Sách giáo khoa e CSTBH © Cơsởtếbàohọc © e DT e Ditruyén se TSHVG se Tần số hoán vị gen e TN e Thí nghiệm se X-D e Thân xám - cánh dài « Đ-C e. Thân đen ~ cánh cụt e X-C e Thân xám ~ cánh cụt e Đ-D e Thân den ~ cánh dài SVTH : TONG XUAN TAM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYEN THỊ VAN MUC LUC Trang Phần I: Lý do chọn để tài .- —- | Phần II: Tống quan về tinh hình vận dụng : “DHGQVĐ” trong nha trường DÉ Hỗ ng ghe niiteetoeeeieotaesveoiesenteosoeaaitoetooasotda sai 10 PRGey TES WA NUIT I OI OBE NT.
số n 16 Phần IV ; Phương pháp nghiên cứu để tai oo. cscsseseeseseseevenencenenenes 17 Phần V : Vấn để nghiên cứu và phạm vi giới hạn của để tài. 24 fo TASRaa loi: | | NHƯ. 29 Điển VERS DP agi sse2ces ees coca43 e Tài liệu tham khảo.
el e Phụ lục Í : Giáo án. or e Phụ lục 2: Bài kiểm CED «««e& ma, e Phụ lục 3: Phiếu học tập. xbGssssesksde „118 '§VTH : TONG XUAN TÁM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYEN THỊ VAN PHANI: LY DO CHON DE TAI Hiện nay, khoa học - kỹ thuật có tốc độ phát triển cực ki nhanh chóng, cứ khoảng 4 - 5 năm khối lượng tri thức tăng lên gấp đôi. Trong sự phát triển như “vi bao“ đó thì sinh học có gia tốc tăng lớn nhất, sự gia tăng khối lượng tri thức, sự đổi mới khoa học sinh học.
Đặc biệt thế kỉ XXI là "thế kỉ của sinh học”, tất yếu đòi hỏi phải đổi mới vé nội dung và phương pháp day học, đổi mới về phương thức đào tạo thế hệ trẻ [2,3]. Hơn nữa, nền kinh tế của nước ta sau khi kết thúc chiến tranh, đã trải qua biết bao nhiêu năm khủng hoảng, nay đang được chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sáng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Trong công cuộc đổi mới này thì giáo duc đóng một vai trò hết sức quan trọng, là nơi cung cấp nguồn nhân lực trẻ cho xã hội, tạo cho xã hội những con người có trình độ văn hoá cao, có khả năng tư duy, có khả năng suy nghĩ và hành động hợp lý, có khả năng thích ứng nhạy bén với môi trường luôn thay đổi. Do vậy, yêu cầu cần đặt ra là phải đổi mới hệ thống giáo dục.
Nhận thức rõ tim quan trọng đặc biệt này của giáo dục cho nên gần đây Dang và Nhà nước ta đều rất quan tâm đầu tư để nâng cao chất lượng day và học : “ Giáo duc là quốc sách hàng đầu ” [13,7]. Nghị quyết Trung ương Đảng lan thứ IV Khóa VII ( 2/1993 ) đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc SVTH : TONG XUAN TÁM : 1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYEN THỊ VÂN học. Ấp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn dé” [13,7]. Để góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ trên và đồng thời để đáp ứng những mục tiêu của nền kinh tế hiện nay đặt ra thì trong dạy học, chúng ta cin có những chuyển biến về mặt giảng dạy như lời cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã căn dặn: “ Chương trình và sách giáo khoa phải đảm bảo dạy cho HS những nguyên lý cơ bản, toàn diện về các mặt trí dục, đức dục và mỹ dục.
Đồng thời tạo cho các em diéu kiện phát triển trí thông minh, khả nang độc lập suy nghĩ và sáng tạo. Phương pháp giảng day bao gid cũng đi đôi với nội dung giảng dạy, anh dạy thế nào cho người học trò, người sinh viên có khả năng độc lập suy nghĩ, giúp cho cái thông minh của họ làm việc phát triển, chứ không phải chỉ giúp cho họ có trí nhớ. Phải có trí nhớ nhưng chủ yếu là phải giúp cho sự phát triển trí thông minh, sáng tạo ”(3,137,178],{13,7]. Qua đó, chúng ta thấy những phẩm chất trí tué của con người phát triển toàn diện mà nhà trường chúng ta phải đào tạo, chủ yếu là những phẩm chất của sự suy nghĩ, của tư duy, óc suy nghĩ độc lập sáng tạo, trí thông minh.
Quán triệt những tinh thần trên, đồng thời để thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo cho xã hội một lớp người có trí thức, có năng lực suy nghĩ, năng lực hành động và thích ứng với sự phát triển của xã hội. Con người đó phải vừa “hổng" vừa “chuyén” như lời Bác Hồ đã căn dan. SVTH : TỐNG XUÂN TÁM 2 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYEN THỊ VAN Từ đó đã dẫn đến đổi mới phương pháp dạy học các bộ môn nói chung và bộ môn sinh học nói riêng là yêu cầu cấp bách hiện nay [3]{ 3]. Đổi mới phương pháp dạy học sinh học ở nhà trường phổ thông được thực hiện trên hai vấn để : Đổi mới về nội dung giảng dạy và đổi mới vé phương pháp giảng dạy.
Phần nội dung phải đổi mới như thế nào ? Đây là công việc của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và những nhà biên soạn sách. Phần đổi mới phương pháp giảng day là theo khuynh hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS. Bằng cách : “Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niém vui hứng thú học tập cho HS. Hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động”.
Nghĩa là dạy như thế nào để HS vừa nấm được kiến thức, vừa nấm được phương pháp đi tới kiến thức đó, phát triển tư duy, đồng thời chuẩn bị năng lực thích ứng với đời sống xã hội. Phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn để nảy sinh trong quá trình học tập và trong cuộc sống hàng ngày [16,6- 13]. Muốn thực hiện được những nhiệm vụ trên, GV cần phải có sự cải tiến và vận dụng linh hoạt 3 kiểu phương pháp dạy học truyền thống để giúp HS lĩnh hội nền văn hóa của nhân loại mà trên cơ sở đó hình thành nhân cách cho HS là : - Thứ nhất _: Phương pháp thông báo - tái hiện. SVTH : TONG XUAN TÁM 3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYEN THI VAN - Thứ hai : Phương pháp làm mẫu - bất chước.
Hai phương pháp này chỉ có thể đưa HS đến trình độ tái hiện và vận dụng thành thạo vào những tình huống quen biết mà thôi. Còn những tình huống mới lạ thì các em sẽ trở nên lúng túng. Phương pháp dạy học truyền thống này theo kiểu chuyển giao một chiều, đơn tuyến từ thay đến trò. Do vậy, đào tạo ra phần lớn những con người bị động, kém thảo vat, thiếu sáng tạo, khó thích ứng.
Nếu có thích ứng được cũng phải trả giá rất đắt về sự sàng lọc, về sự lãng phí thời gian và cả cơ hội. Dạy học như vậy, HS chỉ làm được những gì mà các em đã được học thì chẳng khác gì một cái máy, cho dù cái máy đó có cao cấp như một “robot” hiện đại nhất thì nó cũng chỉ hoạt động theo một chương trình đã được cài đặt sẵn. Vì vậy hai phương pháp dạy học này chưa đạt được hiệu quả cao và chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hội đối với ngành giáo dục [1],[13),[16]. Muốn đạt đến trình độ sáng tạo cao của sự lĩnh hội, tức là khả năng vận dụng những hiểu biết của mình vào những tình huống mới chưa quen biết, cần phải đi theo con đường thứ ba.
D6 là phương pháp nêu vấn để - tìm tòi bộ phận hay còn gọi là phương pháp: “ Dạy học giải quyết vấn dé” (°DHGQVB” 13). Trong lý luận dạy học hiện đại, một “ vấn để nhận thức” hay “tình huống có vấn để " có thể được ý thức như một mục đích hay một phương pháp. SVTH : TONG XUAN TÁM , 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD : NGUYÊN THỊ VÂN -Trong trường hợp thứ nhất: khi hoàn thành chức năng mục đích, “vấn dé” hay “tinh huống có vấn dé” trong các phương pháp day học cổ truyền đã có từ nhiều thế kỷ nay đó là : Thầy dạy cho trò giải thích “vấn dé" hay giải xong một “tinh huống có vấn dé”. Tức là việc dạy và học đi tới mục đích.
Theo con đường này, thì mục đích là quan trọng, còn phương pháp bị coi nhẹ. Đây là trường hợp dạy học ĐỂ giải bài toán ( vấn đẻ, tình huống có vấn dé ). -Trong trường hợp thứ hai: "vấn để” hay “tình huống có vấn để" (bài toán nhận thức ) được coi không chỉ như một mục đích mà còn được coi như một phương pháp sư phạm hiệu nghiệm.