Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đại học cao đẳng ở tỉnh ninh bình

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueb nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đại học cao đẳng ở tỉnh ninh bình, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Đóng góp của đề tài

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

1.1. Khái luận về chất lượng đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ

1.2. Đội ngũ GV các trường ĐH, CĐ và yêu cầu về trình độ đối với đội ngũ này

1.3. Vai trò của đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ

1.4. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

1.5. Những điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

1.6. Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên

1.7. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của một số nước, một số địa phương và bài học cho Ninh Bình

1.7.1. Tổng quan kinh nghiệm một số nước như Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc

1.7.2. Từ thực tiễn kinh nghiệm của một số trường và địa phương

1.7.3. Những bài học kinh nghiệm cho Ninh Bình

2. CHƯƠNG 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình

2.1. Thực trạng về đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình từ năm học 2005-2006 đến năm học 2011-2012

2.1.1. Khái quát các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình

2.1.2. Thực trạng về đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ ở tỉnh Ninh Bình từ năm học 2005-2006 đến năm học 2011-2012

2.2. Các chính sách của Ninh Bình nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng

2.2.1. Các chủ trương, chính sách của địa phương

2.2.2. Đối với các trường Đại học, Cao đẳng

2.2.3. Đánh giá chung

2.3. Thành tựu nâng cao chất lượng đội ngũ GV các trường ĐH, CĐ

2.4. Hạn chế về chất lượng đội ngũ GV các trường ĐH, CĐ

2.5. Nguyên nhân của những hạn chế

3. CHƯƠNG 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2020, tầm nhìn 2030

3.1. Bối cảnh mới tác động đến chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình

3.1.1. Đất nước và tỉnh Ninh Bình

3.1.2. Quan điểm cơ bản về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình

3.1.2.1. Nâng cao chất lượng trên cơ sở số lượng và cơ cấu hợp lý, phải chú ý đến tính đồng bộ, toàn diện, đồng thời phải có trọng tâm, trọng điểm
3.1.2.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, gắn với nhiệm vụ chính trị của nhà trường và địa phương
3.1.2.3. Nâng cao chất lượng ĐNGV phải đổi mới hệ thống tổ chức CB, cơ chế chính sách hợp lý, nhưng để nâng cao chất lượng trước hết phải do chính bản thân GV
3.1.2.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên phải đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực ở bậc Đại học, Cao đẳng và đội ngũ công nhân có trình độ, tay nghề cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững

3.2. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2020, tầm nhìn 2030

3.2.1. Xây dựng quy hoạch tổng thể về đội ngũ giảng viên, xác định biên chế cho từng giai đoạn của nhà trường

3.2.2. Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, sử dụng có hiệu quả đội ngũ giảng viên cơ hữu của nhà trường

3.2.3. Mở rộng hợp tác, liên kết với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học để phát triển đội ngũ giảng viên

3.2.4. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút cán bộ, giảng viên có trình độ cao về công tác tại trường

3.2.5. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyển dụng, quản lý, đánh giá đội ngũ giảng viên

3.2.6. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất; đổi mới cơ chế chính sách, tạo điều kiện làm việc, nâng cao chất lượng đời sống cho giảng viên an tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao chất lượng giảng viên tại Ninh Bình

Chất lượng giảng viên là yếu tố quyết định trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường đại học và cao đẳng. Tại Ninh Bình, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Đội ngũ giảng viên không chỉ cần có trình độ chuyên môn cao mà còn phải đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Để thực hiện điều này, cần có những chính sách và giải pháp đồng bộ nhằm phát triển năng lực giảng viên.

1.1. Tầm quan trọng của chất lượng giảng viên trong giáo dục

Chất lượng giảng viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người hướng dẫn, định hướng cho sinh viên. Việc nâng cao chất lượng giảng viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh Ninh Bình.

1.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên tại Ninh Bình

Đội ngũ giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng ở Ninh Bình hiện nay còn nhiều hạn chế về trình độ và năng lực. Tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ còn thấp, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này.

II. Những thách thức trong việc nâng cao chất lượng giảng viên

Việc nâng cao chất lượng giảng viên tại Ninh Bình đang đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu hụt giảng viên có trình độ cao, phương pháp giảng dạy chưa đổi mới, và cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu là những rào cản lớn. Để vượt qua những thách thức này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục và chính quyền địa phương.

2.1. Thiếu hụt giảng viên có trình độ cao

Tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ tại Ninh Bình còn thấp, điều này dẫn đến chất lượng giảng dạy không đạt yêu cầu. Cần có chính sách thu hút giảng viên có trình độ cao về công tác tại các trường đại học, cao đẳng.

2.2. Phương pháp giảng dạy chưa đổi mới

Nhiều giảng viên vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống, không khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện của sinh viên. Cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao kỹ năng giảng dạy cho giảng viên.

III. Các giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên hiệu quả

Để nâng cao chất lượng giảng viên tại Ninh Bình, cần triển khai đồng bộ các giải pháp như đào tạo, bồi dưỡng, và xây dựng cơ chế đãi ngộ hợp lý. Các trường cần xây dựng kế hoạch dài hạn cho việc phát triển đội ngũ giảng viên, đồng thời tạo điều kiện cho giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học.

3.1. Đào tạo và bồi dưỡng giảng viên

Cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho giảng viên nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng giảng dạy. Việc này không chỉ giúp giảng viên cập nhật kiến thức mới mà còn nâng cao chất lượng giảng dạy.

3.2. Xây dựng cơ chế đãi ngộ hợp lý

Cần có chính sách đãi ngộ hợp lý để thu hút và giữ chân giảng viên có trình độ cao. Điều này bao gồm việc cải thiện mức lương, chế độ phúc lợi và tạo điều kiện làm việc tốt cho giảng viên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Việc nâng cao chất lượng giảng viên không chỉ là lý thuyết mà cần được áp dụng thực tiễn. Các trường đại học, cao đẳng tại Ninh Bình cần thực hiện các nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của các giải pháp đã triển khai. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp điều chỉnh các chính sách và giải pháp cho phù hợp.

4.1. Kết quả từ các trường đại học điển hình

Một số trường đại học tại Ninh Bình đã áp dụng thành công các giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo. Các trường này có thể trở thành mô hình để các trường khác học hỏi.

4.2. Đánh giá hiệu quả các giải pháp

Cần có các tiêu chí đánh giá cụ thể để đo lường hiệu quả của các giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên. Việc này sẽ giúp các trường điều chỉnh kịp thời các chính sách và giải pháp cho phù hợp với thực tiễn.

V. Kết luận và tầm nhìn tương lai cho chất lượng giảng viên

Nâng cao chất lượng giảng viên tại Ninh Bình là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Để thực hiện điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục và chính quyền địa phương. Tầm nhìn tương lai là xây dựng một đội ngũ giảng viên chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nền giáo dục hiện đại.

5.1. Tầm nhìn cho đội ngũ giảng viên chất lượng cao

Đến năm 2030, Ninh Bình cần có một đội ngũ giảng viên chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nền giáo dục hiện đại. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng từ các cơ sở giáo dục và chính quyền địa phương.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Cần có các chính sách phát triển bền vững cho đội ngũ giảng viên, đảm bảo rằng họ có đủ điều kiện làm việc và phát triển nghề nghiệp. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo tại Ninh Bình.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình hiện nay. Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2020. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1.

Khái luận về chất lƣợng đội ngũ giảng viên các trƣờng đại học, cao đẳng 1. Đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng và yêu cầu về tình độ đối với đội ngũ này - Khái niệm về đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng Để có được khái niệm tương đối đầy đủ về đội ngũ này, cần thiết phải hiểu những đặc trưng cơ bản của đội ngũ trí thức nói chung. Thông thường người ta dùng cụm từ “đội ngũ trí thức” để chỉ tập hợp những nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, chuyên gia v., tức là những người có trình độ học vấn và chuyên môn cao, lao động bằng trí óc trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế, có khả năng sáng tạo ra tri thức và vận dụng tri thức vào thực tiễn, làm ra của cải, phục vụ nhu cầu con người và phát triển xã hội. Có bằng cấp hay không bằng cấp cũng đều có thể được coi là trí thức.

Thế kỷ 19 ở Pháp người ta gọi trí thức (intellectuel) là “những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng của thời cuộc”. Còn trong xã hội Nga lúc bấy giờ người ta gọi trí thức (intelligentsia) là “những người đã dấn thân cho công cuộc hiện đại hóa nước Nga”. Họ coi nhà trí thức như là một nhà hoạt động, nếu không làm cách mạng thì cũng là người quan tâm sâu sắc về chính trị, tham gia tích cực hoạt động xã hội và văn hóa, là người biết suy tư, nhìn xa trông rộng, và hiến mình cho công cuộc cải cách xã 14 hội. Bổn phận người trí thức là trung thực với lương tâm mình, kiên trì lý tưởng được cống hiến cho xã hội, phục vụ tổ quốc và cả nhân loại.

Karl Marx nhắc nhở những người trí thức phải đấu tranh cho sự tiến bộ của xã hội: “Trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội, nên họ phải là những người phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu…, không nhân nhượng với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính thực hành của trí thức: “Trí thức học sách chưa phải là trí thức hoàn toàn, muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế. Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận”.

Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức. Khoảng hơn 60 quan niệm khác nhau về trí thức đã được công bố. Nhưng chắc chắn những định nghĩa chưa dừng lại ở con số đó. Đó là điều bình thường vì trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người không ngừng phát triển.

Theo Từ điển tiếng Nga (11/1991): Trí thức là những người có học vấn và kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa và đang làm nghề lao động trí óc. Trong Từ điển tiếng Nga do C. Ozegov chủ biên, thì khái niệm trí thức được định nghĩa là những người lao động trí óc có học vấn, có kiến thức nghề nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học, kỹ thuật và văn hóa. Trong Từ điển bách khoa Liên Xô (1985) do A.

Prokhorov chủ biên thì khái niệm trí thức lại được khai thác từ chức năng xã hội: trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hóa. Tương tự như vậy, trong Từ điển bách khoa Triết học (tiếng Nga M. 1983) 15 chúng ta thấy định nghĩa trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc và thường có học vấn cao tương xứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hóa. Những khái niệm trên chỉ khái quát những đặc trưng và tiêu chí cơ bản nhất của trí thức, các nội dung của khái niệm gắn bó chặt chẽ với nhau không tách rời khi nhìn nhận trí thức.

Đồng thời nó đã xác định một số đặc điểm cơ bản, phổ quát nhất mang tính nội hàm của trí thức. Tuy nhiên, chính do sự phong phú và đa dạng của trí thức trong thực tiễn nên những khái niệm này chỉ dừng lại ở góc độ trí thức của từng lĩnh vực mà tác giả đề cập và nó không thể bao quát được hết các đối tượng trí thức cụ thể và những trường hợp ngoại lệ (được đào tạo hay tự đào tạo, trí thức ở các thời kỳ lịch sử khác nhau…) Theo Giáo sư Đặng Hữu, đặc điểm của trí thức không chỉ có trình độ học vấn cao và có năng lực sáng tạo, mà điều quan trọng đó là có bản lĩnh, phẩm chất luôn đem tri thức phục vụ nhân dân, đấu tranh cho tiến bộ xã hội, hạnh phúc của nhân loại. Ở Việt Nam, cần đặc biệt lưu ý đến định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức. Trong “sửa đổi lề lối làm việc”, sau khi đánh giá cao vai trò của những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trí thức là hiểu biết.

Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là, hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là, hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra.

Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”, “Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. Song Y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc và không biết làm nhiều việc khác. Thế là Y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của Y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn.

Muốn trở thành trí thức hoàn toàn thì Y phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” (1) ( Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tr 5, tr 235). 16 Từ những định nghĩa và quan niệm kể trên, có thể khái quát người trí thức có hai đặc trưng cơ bản sau đây: Một là, làm nghề lao động trí óc - lao động phức tạp, có sức sáng tạo, phát triển và trình độ chuyên môn cao. Hai là, có học vấn cao và có khả năng truyền bá văn hóa. Đương nhiên, ngoài hai đặc trưng cơ bản trên, đòi hỏi người trí thức còn phải có lương tri.

Cho nên, không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn người trí thức phải luôn luôn chú ý cả hai mặt “đức” và “tài”, “Đức” là gốc, “Tài” là cái quan trọng không thể thiếu. Thiếu Đức hoặc Tài đều không phải là người trí thức hoàn toàn. Ở nước ta cũng đã có rất nhiều định nghĩa về trí thức. Chẳng hạn, theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1994) thì: “Trí thức là người chuyên làm việc trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình”.

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005) thì: “Trí thức là tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó bộ phận chủ yếu là những người có học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh. Trí thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sĩ, v v. Trí thức nói chung thường nhạy cảm với cái mới, tiếp thu và truyền bá những tư tương cách mạng, tiến bộ trong nhân dân, có vai trò rất lớn đối với sự phát triển lịch sử, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay”…. Từ định nghĩa trên, ta có thể hiểu trí thức là những người lao động trí óc, trong đó có các nhà khoa học lớn có phát minh, sáng chế.

Do sáng tạo, nên họ nhạy cảm với cái mới, tiếp thu dễ dàng những tư tưởng tiến bộ, có vai trò lớn đối với lịch sử. Khác với tất cả các tầng lớp lao động khác trong xã hội, trí thức có tài sản vô giá là chất xám - trí tuệ. Tài sản này được nhân lên nhanh chóng rất nhiều lần, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội nếu biết phát huy, khai thác, sử dụng. 17 Đảng ta đã có chính sách rất đúng đắn và nhất quán đối với đội ngũ trí thức: coi hiền tài là nguyên khí quốc gia, giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu v.v… Nhờ đó nước ta đã có một đội ngũ trí thức khá mạnh, trung thành với đất nước và đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong nhiều thập kỷ qua.

Thế nhưng đội ngũ ấy vẫn chưa được phát huy tốt và còn bất cập trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội X của Đảng đã khẳng định phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Nói kinh tế tri thức là nói đến việc sử dụng có hiệu quả nhất tri thức mới của thời đại để phát triển nhanh đất nước mình; điều đó đã nói lên vai trò ngày càng đặc biệt quan trọng của đội ngũ trí thức. Trong thời đại cách mạng tri thức và cách mạng thông tin hiện nay nếu không có môt đội ngũ trí thức đông và mạnh đủ khả năng nắm bắt, vận dụng tri thức mới của thời đại đang bùng nổ và sáng tạo tri thức mới thì không thể hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ