phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình hiện nay. Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2020. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1.
Khái luận về chất lƣợng đội ngũ giảng viên các trƣờng đại học, cao đẳng 1. Đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng và yêu cầu về tình độ đối với đội ngũ này - Khái niệm về đội ngũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng Để có được khái niệm tương đối đầy đủ về đội ngũ này, cần thiết phải hiểu những đặc trưng cơ bản của đội ngũ trí thức nói chung. Thông thường người ta dùng cụm từ “đội ngũ trí thức” để chỉ tập hợp những nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, chuyên gia v., tức là những người có trình độ học vấn và chuyên môn cao, lao động bằng trí óc trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế, có khả năng sáng tạo ra tri thức và vận dụng tri thức vào thực tiễn, làm ra của cải, phục vụ nhu cầu con người và phát triển xã hội. Có bằng cấp hay không bằng cấp cũng đều có thể được coi là trí thức.
Thế kỷ 19 ở Pháp người ta gọi trí thức (intellectuel) là “những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng của thời cuộc”. Còn trong xã hội Nga lúc bấy giờ người ta gọi trí thức (intelligentsia) là “những người đã dấn thân cho công cuộc hiện đại hóa nước Nga”. Họ coi nhà trí thức như là một nhà hoạt động, nếu không làm cách mạng thì cũng là người quan tâm sâu sắc về chính trị, tham gia tích cực hoạt động xã hội và văn hóa, là người biết suy tư, nhìn xa trông rộng, và hiến mình cho công cuộc cải cách xã 14 hội. Bổn phận người trí thức là trung thực với lương tâm mình, kiên trì lý tưởng được cống hiến cho xã hội, phục vụ tổ quốc và cả nhân loại.
Karl Marx nhắc nhở những người trí thức phải đấu tranh cho sự tiến bộ của xã hội: “Trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội, nên họ phải là những người phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu…, không nhân nhượng với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính thực hành của trí thức: “Trí thức học sách chưa phải là trí thức hoàn toàn, muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế. Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận”.
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức. Khoảng hơn 60 quan niệm khác nhau về trí thức đã được công bố. Nhưng chắc chắn những định nghĩa chưa dừng lại ở con số đó. Đó là điều bình thường vì trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người không ngừng phát triển.
Theo Từ điển tiếng Nga (11/1991): Trí thức là những người có học vấn và kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa và đang làm nghề lao động trí óc. Trong Từ điển tiếng Nga do C. Ozegov chủ biên, thì khái niệm trí thức được định nghĩa là những người lao động trí óc có học vấn, có kiến thức nghề nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học, kỹ thuật và văn hóa. Trong Từ điển bách khoa Liên Xô (1985) do A.
Prokhorov chủ biên thì khái niệm trí thức lại được khai thác từ chức năng xã hội: trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hóa. Tương tự như vậy, trong Từ điển bách khoa Triết học (tiếng Nga M. 1983) 15 chúng ta thấy định nghĩa trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc và thường có học vấn cao tương xứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hóa. Những khái niệm trên chỉ khái quát những đặc trưng và tiêu chí cơ bản nhất của trí thức, các nội dung của khái niệm gắn bó chặt chẽ với nhau không tách rời khi nhìn nhận trí thức.
Đồng thời nó đã xác định một số đặc điểm cơ bản, phổ quát nhất mang tính nội hàm của trí thức. Tuy nhiên, chính do sự phong phú và đa dạng của trí thức trong thực tiễn nên những khái niệm này chỉ dừng lại ở góc độ trí thức của từng lĩnh vực mà tác giả đề cập và nó không thể bao quát được hết các đối tượng trí thức cụ thể và những trường hợp ngoại lệ (được đào tạo hay tự đào tạo, trí thức ở các thời kỳ lịch sử khác nhau…) Theo Giáo sư Đặng Hữu, đặc điểm của trí thức không chỉ có trình độ học vấn cao và có năng lực sáng tạo, mà điều quan trọng đó là có bản lĩnh, phẩm chất luôn đem tri thức phục vụ nhân dân, đấu tranh cho tiến bộ xã hội, hạnh phúc của nhân loại. Ở Việt Nam, cần đặc biệt lưu ý đến định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức. Trong “sửa đổi lề lối làm việc”, sau khi đánh giá cao vai trò của những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trí thức là hiểu biết.
Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là, hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là, hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra.
Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”, “Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. Song Y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc và không biết làm nhiều việc khác. Thế là Y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của Y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn.
Muốn trở thành trí thức hoàn toàn thì Y phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” (1) ( Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tr 5, tr 235). 16 Từ những định nghĩa và quan niệm kể trên, có thể khái quát người trí thức có hai đặc trưng cơ bản sau đây: Một là, làm nghề lao động trí óc - lao động phức tạp, có sức sáng tạo, phát triển và trình độ chuyên môn cao. Hai là, có học vấn cao và có khả năng truyền bá văn hóa. Đương nhiên, ngoài hai đặc trưng cơ bản trên, đòi hỏi người trí thức còn phải có lương tri.
Cho nên, không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn người trí thức phải luôn luôn chú ý cả hai mặt “đức” và “tài”, “Đức” là gốc, “Tài” là cái quan trọng không thể thiếu. Thiếu Đức hoặc Tài đều không phải là người trí thức hoàn toàn. Ở nước ta cũng đã có rất nhiều định nghĩa về trí thức. Chẳng hạn, theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1994) thì: “Trí thức là người chuyên làm việc trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005) thì: “Trí thức là tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó bộ phận chủ yếu là những người có học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh. Trí thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sĩ, v v. Trí thức nói chung thường nhạy cảm với cái mới, tiếp thu và truyền bá những tư tương cách mạng, tiến bộ trong nhân dân, có vai trò rất lớn đối với sự phát triển lịch sử, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay”…. Từ định nghĩa trên, ta có thể hiểu trí thức là những người lao động trí óc, trong đó có các nhà khoa học lớn có phát minh, sáng chế.
Do sáng tạo, nên họ nhạy cảm với cái mới, tiếp thu dễ dàng những tư tưởng tiến bộ, có vai trò lớn đối với lịch sử. Khác với tất cả các tầng lớp lao động khác trong xã hội, trí thức có tài sản vô giá là chất xám - trí tuệ. Tài sản này được nhân lên nhanh chóng rất nhiều lần, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội nếu biết phát huy, khai thác, sử dụng. 17 Đảng ta đã có chính sách rất đúng đắn và nhất quán đối với đội ngũ trí thức: coi hiền tài là nguyên khí quốc gia, giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu v.v… Nhờ đó nước ta đã có một đội ngũ trí thức khá mạnh, trung thành với đất nước và đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong nhiều thập kỷ qua.
Thế nhưng đội ngũ ấy vẫn chưa được phát huy tốt và còn bất cập trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đại hội X của Đảng đã khẳng định phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Nói kinh tế tri thức là nói đến việc sử dụng có hiệu quả nhất tri thức mới của thời đại để phát triển nhanh đất nước mình; điều đó đã nói lên vai trò ngày càng đặc biệt quan trọng của đội ngũ trí thức. Trong thời đại cách mạng tri thức và cách mạng thông tin hiện nay nếu không có môt đội ngũ trí thức đông và mạnh đủ khả năng nắm bắt, vận dụng tri thức mới của thời đại đang bùng nổ và sáng tạo tri thức mới thì không thể hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức được.