CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận về đội ngũ cán bộ công chức cấp xã và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1. Chính quyền cấp xã Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 đã quy định cụ thể về chính quyền địa phương (CQĐP) như sau: - Điều 110 Hiến pháp năm 2013 quy định các đơn vị hành chính của nước ta được phân định như sau: “Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Đơn vị hành chính - kinh tế (HC – KT) đặc biệt do Quốc hội thành lập” [25, 26].
- Điều 111 Hiến pháp năm 2013 quy định: “CQĐP được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp CQĐP gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị HC – KT đặc biệt do luật định”. Có ba cấp đơn vị hành chính phổ biến là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và một cấp không phổ biến là đơn vị HC – KT đặc biệt [25, 27]. Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016.
Đây là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng để xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và hội nhập quốc tế. Theo đó, chính quyền cấp xã (CQCX): “là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND xã và UBND xã” [26, 20]. 6 - Từ những khái niệm trên, có thể khái quát khái niệm CQCX như sau: CQCX bao gồm HĐND và UBND xã thực hiện quyền lực Nhà nước ở địa phương, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân địa phương, có chức năng thay mặt nhân dân, căn cứ vào nhân dân để thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà Nước và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên được triển khai thực hiện. - Đặc điểm của chính quyền cấp xã Thứ nhất, CQCX có HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
UBND xã do HĐND xã bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND xã và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Thứ hai, CQCX chỉ bao gồm HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước, là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân và UBND xã là cơ quan chấp hành, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, không có các cơ quan tư pháp (Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân). Thứ ba, CQCX là cấp quản lý các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn cơ sở. HĐND xã ra nghị quyết, biện pháp thực hiện, UBND xã ra quyết định và tổ chức thực hiện các nội dung liên quan đến các mặt của đời sống KT – XH tại địa phương.
Thứ tư, CQCX là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn đời sống. Thứ năm, CQCX là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất, là cấp chính quyền giải quyết và chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân. là nơi trực tiếp giải quyết các vấn đề của người dân. Dưới CQCX không còn cấp quản lý nào khác.
Mọi vấn đề liên quan đến đời sống của người dân đều do CQCX trực tiếp thực hiện. Thứ sáu, CQCX được hình thành dựa trên nền tảng những điểm quần cư, liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất. Mọi vấn đề của đơn vị hành chính cấp xã đều liên quan chặt chẽ với nhau, được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước – dân cư và dân cư – dân cư [26, 21]. 7 - Phân loại các đơn vị hành chính cấp xã Theo Nghị định số 159/2005 của Chính phủ ban hành ngày 27/12/2005, dựa trên các tiêu chí cụ thể phân loại đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn gồm ba loại: Xã, phường, thị trấn loại I; Xã, phường, thị trấn loại II; Xã, phường, thị trấn loại III.
Việc phân loại này dựa trên 3 tiêu chí: Dân số, diện tích, các yếu tố đặc thù. Trên cơ sở tính điểm cụ thể dựa vào 3 tiêu chí trên, việc phân loại đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn căn cứ vào khung điểm sau: + Từ 221 điểm trở lên: xã, phường, thị trấn loại I. + Từ 141 đến 220 điểm: xã, phường, thị trấn loại II. + Từ 140 điểm trở xuống: xã, phường, thị trấn loại III [7, 3].
Cán bộ, công chức Theo quy định của Luật CB, CC được Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XII thông qua vào kỳ họp thứ 4 ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 thì khái niệm CB, CC cụ thể như sau: - Cán bộ: “là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (CT – XH) ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [24, 1]. - Công chức: “là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT – XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức CT – XH, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [24, 1-2]. Cán bộ, công chức cấp xã - Cán bộ cấp xã, phường, thị trấn: “là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức CT – XH” [24, 2]. - Công chức cấp xã, phường, thị trấn: “là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [24, 2].
- CB, CC cấp xã có cán bộ chuyên trách và những người hoạt động không chuyên trách. CB, CC chuyên trách ở cấp xã là những người phải dành toàn bộ hoặc phần lớn thời gian lao động để thực hiện các chức trách công vụ được giao, có chế độ làm việc và hưởng chế độ, chính sách cơ bản như đối với CB, CC Nhà nước. Người hoạt động không chuyên trách là những người chỉ tham gia thực hiện các chức trách công vụ trong một phần thời gian lao động. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định khung về số lượng và mức phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách trong hệ thống chính quyền cơ sở cấp xã (kể cả Trưởng thôn).
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật. Quan niệm chung nhất về “chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc. Nói đến chất lượng là nói tới hai vấn đề cơ bản: Thứ nhất, đó là tổng hợp những phẩm chất, giá trị, những đặc tính tạo nên cái bản chất của một con người, một sự vật, sự việc.
Thứ hai, những phẩm chất, những đặc tính, những giá trị đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã được xác định về con người, sự vật, sự việc đó ở một thời gian và không gian xác định. Tuy nhiên, những điều này có tính ổn định tương đối, thay đổi do tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan [37]. - Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Chất lượng đội ngũ CB, CC là: “tổng hợp thống nhất biện chứng những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của đội ngũ CB, CC về mặt con người và các mặt hoạt động, quy định, phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đội ngũ CB, CC trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế” [18, 10]. 9 Theo đó, chất lượng đội ngũ CB, CC có tính ổn định tương đối, có thể cao hoặc thấp do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan, không bất biến, thường xuyên vận động, biến đổi, phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ; chịu sự tác động mạnh mẽ của thực tiễn và phụ thuộc vào quá trình bồi dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi người CB, CC.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Chất lượng đội ngũ CB, CC cấp xã: “là tổng hòa cả ba mặt, sức khỏe, trình độ chuyên môn nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức chính trị của từng CB, CC tập hợp thành một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn diện, thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ kết hợp với cơ cấu, số lượng, độ tuổi, thành phần của đội ngũ CB, CC cấp xã” [18, 11]. Chất lượng của đội ngũ CB, CC cấp xã có vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa ở địa phương.