CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 1. Khái niệm - Chính quyền cấp xã Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, “CQ địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp CQ địa phương gồm có HĐND và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”.[37] Trong đó HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan nhà nước cấp trên. CQ cấp xã là cấp CQ gần dân nhất, là trung tâm của HTCT ở cơ sở, là địa bàn gắn trực tiếp nhất với cuộc sống nhân dân. Tất cả các tổ chức quyền lực nhà nước cấp trên cuối cùng đều phải thông qua vai trò của hệ thống CQ cấp xã và nếu không có CQ cơ sở vững chắc, các tổ chức CQ cấp trên khó có thể phát huy tác dụng. Các quan hệ nhân dân với Đảng, với Nhà nước thể hiện trước hết và trực tiếp thông qua quan hệ của nhân dân với CQ cấp xã.
Sức mạnh của HTCT được chứng minh qua sức mạnh của CQ cơ sở. Cơ sở và CQ cơ sở là yếu tố quyết định sự nghiệp thành bại của sự nghiệp đổi mới của cả nước nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng. Như vậy, CQ cấp xã là trung tâm của HTCT cơ sở, là một trong các cấp CQ của nhà nước ta bao gồm HĐND và UBND là những cơ quan quyết định và tổ chức thực hiện những chủ trương, biện pháp liên quan đến phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân ở địa phương theo quy định của hiến pháp và pháp luật. 6 - Cán bộ Kỳ họp thứ 4 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua luật CB, CC ngày 13 tháng 11 năm 2008.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Tại khoản 1 điều 4 Luật quy định “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. [35] - Công chức Tại khoản 2 điều 4 Luật quy định Luật CB, CC cũng đã qui định rõ: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. [35] - CB, CC cấp xã Như vậy, thuật ngữ công chức nói chung, công chức cấp xã nói riêng theo quy định tại khoản 3, điều 4 “Luật CB, CC” được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, được hiểu cụ thể “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được 7 tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [35] Theo quy định trên, ta có thể thấy rõ cán bộ cấp xã hiện nay có các chức danh chủ yếu sau đây: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ; Chủ tịch Hội Nông dân (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Công chức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. - Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Chất lượng là một phạm trù phức tạp và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt thì “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc”. [32; Tr 44] Theo từ điển Oxford Pocket Dictionary thì “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” [40] Theo Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa, trong tiêu chuẩn ISO 8402:2000 (Quality Management and Quality Assurance), trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa như sau: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”.
[38] Tùy vào mỗi lĩnh vực khác nhau với mỗi mục đích khác nhau sẽ có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. - Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức - Chất lượng CB, CC cấp xã : là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng CB, CC. Muốn xác định chất lượng CB, CC cấp xã cao hay thấp ta phải nhìn nhận qua 8 các tiêu chuẩn cụ thể về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức, tình trạng sức khỏe của đội ngũ CB, CC trong thực thi công vụ. Chất lượng đội ngũ CB, CC cấp xã còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người CB, CC cấp xã đối với công vụ được giao.
Như vậy, có thể định nghĩa về chất lượng đội ngũ CB, CC cấp xã như sau: “Chất lượng đội ngũ CB, CC cấp xã là tập hợp tất cả các thuộc tính của từng CB, CC cấp xã cùng sự phối hợp hoạt động chặt chẽ cả về ý chí lẫn hành động của đội ngũ CB, CC cấp xã có khả năng đáp ứng yêu cầu, mục tiêu tại một thời điểm nhất định”. [2; Tr11] Chất lượng đội ngũ CB, CC bao gồm những nội dung sau: - Thể lực - Sức khỏe hết sức quan trong với mỗi chúng ta ai cũng cần phải có sức khỏe để làm việc dù làm bất cứ công việc gì, ở đâu. Sức khỏe là nền tảng quan trọng cho mọi hoạt động. Sức khỏe của CB, CC cấp xã là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng đội ngũ CB, CC cấp xã.
Sức khỏe có tác động đến chất lượng lao động cả hiện tại và tương lai. Người lao động nói chung, CB, CC cấp xã nói riêng có sức khỏe tốt sẽ đem lại năng suất lao động cao hơn bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung công việc. - Sức khỏe của con người chịu tác động của rất nhiều yếu tố như: yếu tố về thu nhập, mức sống, chế độ ăn uống, làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… - Đặt trên góc độ đánh giá thể lực thì yếu tố sức khỏe được xem xét bởi một số chỉ tiêu sau: Chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể BMI và các chỉ số về bệnh tật như: tình trạng huyết áp, sự ảnh ưởng của các căn bệnh mãn tính như cận thị, viễn thị, tiểu đường, viêm gan B,C…. - Yêu cầu về sức khỏe của CB, CC cấp xã không chỉ là tiêu chuẩn bắt buộc khi tuyển dụng công chức mà còn là yêu cầu được duy trì trong cả cuộc đời công vụ của CB, CC.
Trước khi tham gia vào công vụ, họ phải đảm bảo đủ sức khỏe để thực 9 hiện nhiệm vụ mới được dự tuyển công chức. Trong quá trình công tác, họ phải có đủ sức khỏe để duy trì thực hiện nhiệm vụ, công vụ liên tục với áp lực cao. Và cuối cùng thể lực được đánh giá rõ nhất qua hiệu quả công việc mang lại, nó tác động đến chất lượng của công việc qua hiệu quả hoạt động công việc. - Trình độ phát triển trí tuệ, học vấn, chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghiệp vụ, tay nghề.
Nó quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, nó càng có vai trò quyết định trong phát triển nguồn lực con người đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như ngày nay. Hay nói cách khác, trí lực còn có nghĩa biểu thị kiến thức về nhiều mặt liên quan đến hoạt động quản lý, chuyên môn, vừa tổng hợp, vừa chuyên sâu. - Đội ngũ CB, CC cấp xã trước tiên phải nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ của ngành làm việc, phải am hiểu về nghề, thực hiện đúng và đầy đủ những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân.