Chương 1 “NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC” 1.1 Những lý luận chung về nguồn nhân lực “ ” 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quyết định đối với sự phát triển của đất nước và phát triển nguồn nhân lực được xem là một vấn đề trọng tâm, cốt lõi của sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Có nhiều quan điểm, định nghĩa được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau về nguồn nhân lực. ” Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” (David Begg et al,1995, trang 282).
Theo Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”. “ ” “ Theo Nguyễn Hữu Dũng : “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ ” năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ.
Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn 9 phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” (Nguyễn Hữu Dũng, 2003, trang 5). “ Như vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện thông qua số lượng và chất lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định .2 “ Cơ cấu nguồn nhân lực ” Cơ cấu nguồn nhân lực được xem là yếu tố quan trọng khi đánh giá nguồn “ nhân lực.
Cơ cấu nguồn nhân lực phản ánh mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổng thể nguồn nhân lực của một tổ chức. Cơ cấu nguồn nhân lực thể hiện ở nhiều mặt khác nhau như: cơ cấu theo ngành nghề, lảnh thổ, lĩnh vực hoạt động, theo trình độ đào tạo và năng lực vị trí công tác của nguồn nhân lực, theo giới tính, theo độ tuổi Cơ cấu nguồn nhân lực của một đất nước được quyết định bởi yếu tố cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định với nguồn nhân lực.3 “ Vai trò nguồn nhân lực ” Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực đóng vai trò quan trong góp “ phần thực hiện thành công trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và thực hiện CNH, HĐH đất nước. Con người luôn đóng vai trò là nhân tố trung tâm trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào. Vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế xã hội.Mac đã khẳng định con người có vai trò quyết định nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội và con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người trong quá trình lao động sản xuất.
Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người và vừa là phương thức để làm biến đổi toàn bộ đời sống xã hội. Do vậy, một quốc 10 gia phát triển khi chất lượng cuộc sống của con người được đảm bảo, ngày càng nâng lên, năng lực sáng tạo của con người không ngừng được phát triển. ” “Phát huy nguồn lực con người là yếu tố căn bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Con người là trung tâm của sự phát triển , vừa là “ ” mục đích, vừa là động lực của sự phát triển.
Phát triển con người là sự gia tăng giá trị cho con người cả về tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng lẫn thể chất .4 Chất lượng nguồn nhân lực và các nhân tố ảnh hưởng 1.1 Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực được thể hiện các mối quan hệ bản chất bên trong của nguồn lực, và luôn có sự vận động, thay đổi. Trong bối cảnh hiện nay khi những thành tựu khoa học công nghệ phát triển thì chất lượng của nguồn nhân lực luôn có sự vận động, đi lên theo các chiều hướng tích cực và cũng có nhiều thách thức yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực .2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực - Sự phát triển của kinh tế - xã hội Trình độ của nền kinh tế tác động đến chất lượng nguồn nhân lực do nó là cơ sở để xác định thu nhập, cải thiện mức sống, tuổi thọ, nâng cao dân trí xã hội của các tầng lớp dân cư. Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện mức thu nhập của nhân dân, tăng phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, lao động có tay nghề, chuyên môn được đào tạo hướng tới đáp ứng yêu cầu iphát triển của nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế phát triển cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước, nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng.
” - Chất lượng“giáo dục và đào tạo, kế hoạch hóa dân số, y tế và chăm sóc sức khỏe” Hệ thống giáo dục đào tạo phát triển có tác động mạnh đến sự phát triển của “ nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội hướng tới CNH, HĐH ở mỗi quốc gia. Chất lượng giáo dục đào tạo có vai trò trực tiếp quyết định chất lượng nguồn nhân lực hiện nay. Trình độ giáo dục và đào tạo phát triển cao thì quy mô nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng mở rộng, có chiều sâu. Thực tế cho ” 11 thấy, ở các nước phát triển, nền giáo dục luôn được Nhà nước quan tâm, chi đầu tư cho giáo dục luôn ở mức cao trong tổng chi ngân sách nhà nước, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất, “ đưa các phát minh, sáng chế đến thực tiễn quá trình lao động hiệu quả hơn.
Hiện nay, chất lượng nền giáo dục và đào tạo ở nước ta vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển CNH, HĐH đất nước, nhất là đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, trình độ cao vẫn còn hạn chế. “Đại hội Đảng lần thứ XII đã xác định nhiệm vụ, giải pháp chủ ” yếu để phát triển giáo dục thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân”. Quy mô và tốc độ gia tăng dân số ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất “ lượng nguồn nhân lực.
Hiện nay, do cơ cấu dân số theo tuổi biến đổi nhanh, Việt Nam đang trong thời kỳ “Cơ cấu dân số vàng”. Năm 2006, Việt Nam đã bắt đầu bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” khi có trên 66% dân số trong độ tuổi có khả năng lao động (từ 15 đến 64 tuổi). Theo dự báo của Tổng cục Thống kê (năm 2016), thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” của Việt Nam kéo dài đến khoảng năm 2041. Đây là giai đoạn mang lại nhiều cơ hội nhờ lực lượng dân số trong độ tuổi lao động dồi dào.
Tuy nhiên, cũng là thách thức trong quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm và việc làm có năng suất, chất lượng, thu nhập cao. Quỹ Dân số Liên hợp quốc cũng cảnh báo: Chất lượng dân số thấp đang là yếu tố cản trở sự phát triển và đặt Việt Nam trước nguy cơ tụt hậu xa hơn. Do vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta trong thời gian tới cần phải có chiến lược chính sách kế hoạch hóa dân số và điều chỉnh tốc độ tăng dân số hợp lý tạo tiền đề cho sự phát triển nền kinh tế xã hội, tập trung chăm lo phúc lợi xã hội, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. ” “ Chất lượng hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe cho người lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến trí lực và thể lực của nguồn nhân lực.
Chính sách y tế phù hợp 12 tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có thể tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe để nâng cao sức khỏe, tuổi thọ trong tương lai để có lực lượng lao động dồi dào, khỏe mạnh, có chất lượng phục vụ quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia .