Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng n ộ, công chức tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện. 5 Chương 2: hương ph p nghi n ứu. Chương 3: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức tại Uỷ ban nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại Uỷ ban nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA CÁC CƠ QUAN UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về chất lƣợng cán bộ, công chức của các cơ quan Uỷ ban nhân dân cấp huyện 1. Cán bộ, công chức của các cơ quan Uỷ ban nhân dân cấp huyện 1. Kh i niệm n ộ, ông hứ ủa ơ quan Uỷ an nhân dân ấp huyện Trong những tài liệu mà tác giả thu thập được, có nhiều khái niệm về CBCC đã được các tác giả và một số tài liệu đề cập, trong đó khái niệm về cán bộ được tách riêng với khái niệm công chức, cụ thể như sau Khái niệm Cán bộ Khái niệm về cán bộ được Hồ Chí Minh nêu lên lần đầu tiên trong dịp thăm tỉnh Thanh Hóa, ngày 20/02/1947: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy.
Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động ơ dù tốt, dù chạy toàn bộ m y ũng t liệt. Cán bộ là những người đem hính s h ủa Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì hính s h hay ũng không thể thực hiện được”. (Theo Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ tỉnh Thái Bình (2020)) Theo Đỗ Quỳnh Liên (2019), tác giả tổng hợp các khái niệm về “cán bộ” được sử dụng thông thường tại Việt Nam và khái quát rằng Cán bộ là “những người có chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm làm việ trong ơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và lự lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương, thuộc biên chế Nhà nướ và hưởng lương từ ngân s h nhà nước; giữ vai trò và ương vị nòng cốt trong ơ quan ( ó thể là người lãnh đạo, người quản lý), ó t động, ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của ơ quan”. Trên cơ sở đó, khái niệm Cán bộ đã được khái quát và tổng hợp cụ thể trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong ơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, 7 thành phố, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân s h nhà nước”.
Khái niệm Công chức Theo Luật Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2019 thì: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việ làm trong ơ quan ủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong ơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân huy n nghiệp, công nhân quố phòng; trong ơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân s h nhà nước.” Công chức theo nghĩa chung là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu từ ngân sách nhà nước. Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế. Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước. Như vậy, cán bộ, công chức của các cơ quan UBND cấp huyện về bản chất là cán bộ, công chức theo khái niệm chung nêu trên và trên quan điểm của tác giả thì “cán bộ, công chức của ơ quan UBND ấp huyện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng và bổ nhiệm làm việc tại ơ quan UBND ấp huyện và hưởng lương từ ngân s h nhà nước”.
Đặ điểm n ộ, ông hứ ủa ơ quan Uỷ an nhân dân ấp huyện Do tính chất đặc thù của công việc, CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, CBCC của ơ quan UBND cấp huyện là những người làm việc trong các ơ quan UBND cấp huyện và phải chấp hành nghiêm chỉnh ph p luật của Nhà nước. CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện không những là người chấp hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật tại nhà nước cấp trên mà còn là người thực 8 thi và bảo vệ pháp luật. Họ là những người thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Luật cán bộ, công chức và hệ thống luật pháp có liên quan, như uật Hành chính, Luật Phòng chống tham nhũng, uật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện là người thực hiện quyền lực của nhà nước, giám sát, kiểm tra đối với các lĩnh vực hoạt động trên địa bàn huyện, từ phát triển kinh tế, văn hóa, y tế, xã hội, xây dựng chính quyền địa phương, phát triển dịch vụ công đáp ứng tốt nhu cầu của người dân trên địa bàn huyện. Do đó, việc thực thi công vụ của CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện có tính pháp lý cao và phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.
Thứ hai, địa bàn hoạt động của CBCC của ơ quan UBND cấp huyện không rộng nhưng thường rất phức tạp, đòi hỏi sự sâu s t ủa CBCC của ơ quan UBND cấp huyện. Trên địa bàn một huyện thường có rất nhiều tổ chức, ngành nghề cùng hoạt động, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cũng rất đa dạng. Thành phần dân cư sinh sống tại các huyện hiện nay thường cũng rất phức tạp, người tạm trú khá đông. Đây là điều kiện dễ làm phát sinh các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn trên địa bàn.
Thứ ba, CBCC của ơ quan UBND cấp huyện có mối quan hệ ông t phức tạp với ơ quan nhà nước cấp trên, với l nh đạo UBND huyện, các phòng ban thuộc UBND huyện. Trên địa bàn hoạt động của UBND huyện, CBCC còn phải có quan hệ nghiệp vụ với cơ quan nhà nước khác, như thuế, quản lý thị trường và người dân buôn bán nhỏ. Như vậy, khi thực thi công vụ, CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện phải đồng thời giải quyết nhiều mối quan hệ khác nhau. Ở đây đòi hỏi sự khéo léo và các kỹ năng của cán bộ công chức.
Thứ tư, về trình độ, năng lực và kỹ năng làm việc của CBCC của ơ quan UBND cấp huyện. CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện là những người trực tiếp đưa đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước vào trong cuộc sống. Địa phương có phát triển được hay không, chính quyền có giải quyết tốt các nhu cầu của người dân trên địa bàn hay không, trật tự an toàn trên địa bàn có được 9 ổn định hay không phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện. Thứ năm, về tính chất công việc của CBCC của ơ quan UBND cấp huyện, đòi hỏi phải đề ao đạo đức công vụ.
CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện quản lý các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện, thường xuyên phải giải quyết các yêu cầu của người dân. Nếu CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện không đề cao đạo đức công vụ, không ngừng nâng cao tinh thần, trách nhiệm, sâu sát quần chúng nhân dân, lo nỗi lo của dân, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của nhân dân thì không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vì vậy, CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện luôn phải đề cao phẩm chất đạo đức công vụ, kiên định, vững vàng trong mọi tình huống, giữ vững uy tín của những người CBCC, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Do yêu cầu đặc thù của công việc, CBCC của các cơ quan UBND cấp huyện phải là người trung thực, liêm chính, chí công vô tư.
Vai trò ủa n ộ, ông hứ Đội ngũ CBCC có vai trò quyết định đến sự phát triển của đất nước, là người trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi luật pháp, quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, tham mưu hoạch định tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra việc thực thi các đường lối chính sách làm cho bộ máy nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn. Là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ hoạch định các chính sách, đưa các chính sách và thực hiện đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành thực tiễn, tiếp thu nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ánh kịp thời với cấp trên, giúp Đảng và Nhà nước đề ra được những chủ trương chính sách sát với thực tiễn. Là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, là một trong những nguồn lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. à đội ngũ chủ yếu trực tiếp tham gia xây dựng đường lối đổi mới kinh tế của đất nước, hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức 10 quản lý nhà nước và kiểm tra; là những người trực tiếp tạo môi trường, điều kiện về sử dụng công cụ kinh tế, thực lực kinh tế để tác động, quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường.
Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, trong điều kiện hội nhập quốc tế, vai trò của đội ngũ CBCC càng trở nên quan trọng, bởi các lý do sau đây: Thứ nhất, kinh tế - xã hội phát triển toàn diện khiến cạnh tranh trên thị trường thêm quyết liệt, đòi hỏi càng nhiều phương án, quyết định quản lý và sự lựa chọn phương án tối ưu càng khó khăn, phức tạp hơn.