Chương 1. Những vấn đề chung về ủy thác giữa ngân hàng chính sách xã hội với các tổ chức chính trị xã hội. Thực trạng chất lượng dịch vụ ủy thác giữa Ngân hàng chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Cao Bằng với các tổ chức chính trị xã hội tỉnh Cao Bằng.Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ ủy thác giữa Ngân hàng chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Cao Bằng với các tổ chức chính trị xã hội tỉnh Cao Bằng.” 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ỦY THÁC GIỮA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI 1.Khái quát chung về ủy thác giữa NHCSXH với các tổ chức chính trị xã hội về chất lƣợng dịch vụ ủy thác 1. Khái niệm ủy thác “ Ủy thác là giao việc cho cá nhân, pháp nhân – bên được ủy thác, nhân danh người ủy thác để làm một việc nhất định mà người ủy thác không thể làm trực tiếp hoặc không muốn làm.
Trong luật dân sự, ủy thác là hành vi pháp lý được thực hiện dưới hình thức văn bản – hợp đồng ủy thác, theo đó bên được ủy thác, còn gọi là bên nhận làm đại lý được nhân danh và được bên ủy thác, bên giao làm đại lý trả tiền chị phí hoặc được trích trả một số tỷ lệ % tiền thu được để làm một số việc hoặc mua, bán một số hàng hóa nhất định. Bên được ủy thác chỉ được làm và chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi được ỷ thác. Nếu bên được ủy thác hoạt động vượt khỏi phạm vi ủy thác thì phải tự chịu trách nhiệm. Hợp đồng ủy thác phải ghi rõ đầy đủ họ, tên, địa chỉ, trụ sở, tài khoản nếu là pháp nhân, phạm vi, nội dung ủy thác, quyền, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên và do các người có đủ thẩm quyền ký kết vào hợp đồng.
Theo Thông tư 30/2014/TT-NHNN về ủy thác và nhận ủy thác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành thì Ủy thác trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán (sau đây gọi tắt là ủy ” thác thanh toán) là việc một bên (bên ủy thác) thỏa thuận với một bên khác (bên nhận ủy thác) để thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư này tại các điểm ủy thác thanh toán (Thông tư ủy thác nhận ủy thác hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán 2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Theo Thông tư số 04/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, dịch vụ ủy thác có một số đặc điểm sau: 6 Thứ nhất, quan hệ ủy thác được xác lập giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác “ Bên nhận ủy thác cho vay là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, bao gồm: Ngân hàng thương mại, công ty tài chính, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Bên ủy thác cho vay, bao gồm: - Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại, công ty tài chính, ngân hàng hợp tác xã, tổ chức tài chính vi mô và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. - Tổ chức khác là pháp nhân ở trong nước.
- Tổ chức ở nước ngoài.” Thứ hai, nội dung của hoạt động ủy thác được xác lập bằng Hợp đồng ủy thác, trong đó nêu đầy đủ về các nguyên tắc, quy định, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của bên ủy thác và bên nhận ủy thác (ví dụ như các điều khoản thực hiện, mức phí ủy thác…) và phải phù hợp với các quy định của pháp luật. Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ trong ủy thác gồm: “- Ủy thác phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản phù hợp với quy định của pháp luật. - Bên ủy thác và bên nhận ủy thác phải có hệ thống thông tin đảm bảo theo dõi riêng được hoạt động dịch vụ tín dụng thông qua việc ủy thác và nhận ủy thác, đồng thời theo dõi và thống kê được các hoạt động ủy thác thực hiện tại từng thời điểm. - Bên ủy thác chỉ được ủy thác cho bên nhận ủy thác thực hiện những nội dung ủy thác mà bên ủy thác được thực hiện và được ủy thác theo quy định.
- Bên ủy thác phải thực hiện các biện pháp nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các loại rủi ro như hoạt động, lừa đảo, gian lận, rửa tiền, tài trợ khủng bố và các rủi ro khác; bên ủy thác có trách nhiệm yêu cầu bên nhận ủy thác thực hiện các biện pháp của bên nhận ủy thác nhằm các mục đích quy định tại khoản 7 này. - Bên ủy thác có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch do bên nhận ủy thác thực hiện với khách hàng trong phạm vi ủy thác và liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên nhận ủy thác nếu hành vi vi phạm có lỗi của bên ủy thác. - Giao dịch do bên ủy thác thực hiện với khách hàng vượt quá phạm vi ủy thác không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của bên ủy thác đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi ủy thác; trong trường hợp này, bên nhận ủy thác phải thực hiện nghĩa vụ đối với khách hàng về phần giao dịch vượt quá phạm vi ủy thác.” - Bên nhận ủy thác chỉ được thực hiện một số công việc trong phạm vi ủy thác đã thỏa thuận với bên ủy thác phù hợp với quy định. - Trường hợp bên nhận ủy thác và khách hàng cố ý hoạt động vượt quá phạm vi ủy thác mà gây thiệt hại cho bên ủy thác thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho bên ủy thác.
Nội dung dịch vụ ủy thác giữa NHCSXH với các tổ chức chính trị xã hội 1. Công tác tuyên truyền, vận động Tuyên truyền, vận động là bước đầu tiên trong hoạt động ủy thác. Đối tượng tuyên truyền, vận động gồm các cán bộ nhân viên của các tổ chức chính trị xã hội, và người dân tại các địa phương. Trước tiên, NHCSXH cần tuyên truyền, vận động chính các cán bộ, nhân viên của các tổ chức chính trị xã hội hiểu được tầm quan trọng của việc ủy thác, từ đó hiểu được ý nghĩa công việc họ đang làm và chủ động phối hợp hơn.
Tiếp theo, cả NHCSXH và các tổ chức chính trị xã hội tập trung phối hợp để tổ chức tuyên truyền về hoạt động tín dụng bằng nhiều hình thức khác nhau, phù hợp với đặc thù của các địa phương. Một số hình thức tuyên truyền thường được sử dụng đó là tuyên truyền trực tiếp tại các điểm dân cư tập trung; thông qua hội nghị, tọa đàm, hội thảo chuyên đề, tập huấn chuyên sâu, lồng ghép trong giao ban, hội họp, sinh hoạt Đảng, đoàn thể; họp thôn, buôn; chuyên trang, chuyên mục, đưa tin, phát sóng các buổi tuyên truyền; biên soạn, phát hành thành các tập san, đĩa DVD, 8 xe lưu động, pa nô, áp phích, tờ rơi, tranh cổ động; thông qua những người có uy tín, có tiếng nói như già làng, trưởng bản; nói chuyện, các buổi học ngoại khóa, trải nghiệm thực tế,. Nhờ tuyên truyền thường xuyên, nội dung đa dạng, hấp dẫn mà người dân nắm rõ được các chủ trương, chính sách tín dụng của Đảng, Nhà nước và dễ dàng tiếp cận được hơn. Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của Tổ TK&VV, Ban quản lý Tổ và tổ viên Tổ TK&VV Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ TK&VV, Ban quản lý tổ và tổ viên tổ TK&VV là công việc cần thiết, để biết các tổ chức hoạt động như thế nào, có hiệu quả không, từ đó có những điều chỉnh kịp thời.
Hàng năm, NHCSXH sẽ lập kế hoạch kiểm tra, giám sát vào đầu năm, sau đó phân nhiệm cho các phòng ban để cùng kiểm tra. Qua kiểm tra, giám sát, NHCSXH sẽ kịp thời phát hiện những yếu kém, vướng mắc trong quá trình ủy thác, từ đó có những biện pháp khắc phục kịp thời. Hơn nữa, việc kiểm tra, giám sát phải bảo đảm các mục tiêu đề ra, đảm bảo tiến độ, thời gian và nguồn lực đã dự kiến. Qua kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý các bất cập, hạn chế; và rút kinh nghiệm để thực hiện kiểm tra tốt hơn cho những lần sau.
Việc kiểm tra, giám sát cũng giúp khắc phục những bất cập, hạn chế một cách kịp thời, xử lý và điều chỉnh để đảm bảo các chính sách đi đúng định hướng. Các kết luận thanh tra, kiểm tra phải được văn bản hóa và công khai theo quy định về công khai thông tin. Phối hợp thực hiện giữa NHCSXH với các tổ chức chính trị xã hội Để các hoạt động ủy thác được thực hiện hiệu quả, đảm bảo các mục tiêu đề ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa NHCSXH với các tổ chức chính trị xã hội. Việc phối hợp được thực hiện liên tục, nhịp nhàng từ tư vấn, giải đáp các vướng mắc cho người dân; giải ngân; quản lý nợ vay; đôn đốc thu hồi nợ đến hạn; thực hiện các biện pháp xử lý nợ quá hạn; đối chiếu, phân tích nợ vay.
Nhờ phối hợp chặt chẽ, chất lượng tín dụng ủy thác qua các tổ chức chính trị xã hội ngày càng được củng cố, nâng cao. Nội dung chất lƣợng dịch vụ và đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ Để hiểu khái niệm chất lượng dịch vụ, trước tiên cần hiểu khái niệm dịch vụ. Ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ trong kinh tế học của Lưu Văn Nghiêm (2008) được sử dụng rộng rãi.
Theo đó, dịch vụ được hiểu là “những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa - dịch vụ”. Trong marketing, Philip Kotler (2006), dịch vụ “là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền”.
“ Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi sản phẩm vật chất. Trên giác độ hàng hóa, dịch vụ là hàng hóa vô hình mang lại chuỗi giá trị thỏa mãn một nhu cầu nào đó của thị trường (Lưu Văn Nghiêm, 2008).