phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực vànâng cao năng lựccán bộ tín dụng Chương 2: Thực trạng năng lực cán bộ tín dụng của chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Cao Bằng. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cán bộ tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Cao Bằng. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ TÍN DỤNG 1. Khái niệm, đặc điểm, và phân loại cán bộ tín dụng 1.
Khái niệm, vai trò cán bộ tín dụng * Khái niện Cán bộ tín dụng là những người thực hiện trực tiếp công việc tín dụng tại ngân hàng (Từ điển tiếng Việt, 2012). * Vai trò cán bộ tín dụng - Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban giám đốc và trưởng/phó phòng tín dụng trong chi nhánh. Chịu trách nhiệm tiếp thị và tìm kiếm khách hàng (cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế,…) có nhu cầu vay vốn. - Tiếp xúc khách hàng, căn cứ trên nhu cầu của khách hàng và khả năng cung ứng dịch vụ, tiện ích của ngân hàng hướng dẫn và tư vấn cho khách hàng hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy định của ngân hàng.
Nếu xét thấy khách hàng không đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng về điều kiện vay vốn nên thông tin bằng văn bản ngay cho khách hàng để khỏi làm mất thời gian, công sức của khách hàng. - Thẩm định khách hàng có nhu cầu vay vốn về uy tín, năng lực kinh doanh, quy mô hoạt động, khả năng tài chính, tình hình kinh doanh, phương án, kế hoạch kinh doanh và khả năng trả nợ gốc và lãi vay, tài sản đảm bảo nợ vay. - Lập tờ trình thẩm định hoặc báo cáo thẩm định theo quy trình của ngân hàng và trình các cấp xét duyệt cho vay hoặc từ chối cho vay - Lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và các hồ sơ văn bản có liên quan. - Theo dõi và lập hồ sơ giải ngân theo yêu cầu của khách hàng và các quy định về giải ngân của ngân hàng.
- Kiểm tra sử dụng vốn vay của khách hàng sau khi giải ngân theo quy định của ngân hàng và theo dõi việc trả nợ gốc và lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã ký 5 giữa ngân hàng và khách hàng. - Thực hiện việc chuyển nhóm nợ, xử lý thu hồi nợ trước hạn, khởi kiện để thu hồi nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ trong trường hợp khoản vay phát sinh nợ xấu, nợ khó đòi. - Thực hiện tất toán hợp đồng và giải chấp tài sản thế chấp, xoá đăng ký giao dịch đảm bảo khi khách hàng tất toán khoản vay hợp đồng. - Thực hiện các công việc khác khi người sử dụng lao động phân công như: Xử lý các món quá hạn, các trường hợp rủi ro tín dụng, xử lý khoản vay bằng tài sản, khởi kiện khi khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng…” (Thời báo Ngân hàng, 2019).
Đặc điểm cán bộ tín dụng “ Hoạt động tín dụng là hoạt động liên quan trực tiếp đến tiền nên cán bộ tín dụng phải chịu áp lực cao, mức độ làm việc căng thẳng vì sức ép hoàn thành chỉ tiêu kinh doanh và hiệu quả kinh doanh. Ngân hàng là một tổ chức tài chính, thành lập theo quyết định của Nhà nước để thực hiện các chính sách tín dụng cho các tầng lớp nhân dân. Do đó, các chỉ tiêu tín dụng của cán bộ tín dụng được đặt ra từ đầu năm, được giao cho các phòng ban, bộ phận và toàn thể cán bộ nhân viên trong ngân hàng thực hiện. Các cán bộ tín dụng hoạt động dưới sự theo dõi, đánh giá mức độ hoàn thành công việc và xếp loại lao động theo tháng, quý, năm.
Đây là cơ sở để xét duyệt lương, thưởng, kỷ luật các cán bộ tín dụng theo tiêu chí hoàn thành công việc và hiệu quả công việc. Bên cạnh đó, do liên quan đến tiền nên cán bộ tín dụng phải đối mặt với nhiều rủi ro như rủi ro tác nghiệp, rủi ro hoạt động, tiềm ẩn rủi ro,… Trong đó, rủi ro tín dụng là loại rủi ro thường xuyên gặp phải nhất và đây cũng là loại rủi ro có tác động nhiều nhất tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cán bộ tín dụng cũng thường xuyên phải đối mặt với sức ép giao chỉ tiêu huy động, chỉ tiêu cho vay. Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, nhiều tổ chức tín dụng, nhiều ngân hàng/ chi nhánh ngân hàng phát triển trên cùng địa bàn với nhiều chính sách cạnh tranh hấp dẫn nên các ngân hàng đều phải cạnh tranh gay gắt, gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút khách hàng.
Để có được 6 nhiều khách hàng và chiếm được thị phần cao, các ngân hàng buộc phải giao chỉ tiêu cho các cán bộ tín dụng để đạt được mục tiêu đã đề ra. Cán bộ tín dụng hoạt động dựa trên niềm tin, uy tín với khách hàng và quan hệ khách hàng. Theo chức năng, nhiệm vụ, cán bộ tín dụng là người thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ, giao tiếp với nhiều đối tượng khách hàng ở nhiều thành phần khác nhau. Do đó, cán bộ tín dụng phải xây dựng quan hệ tốt đẹp, uy tín với khách hàng để giữ chân khách hàng và thu hút thêm nhiều khách hàng mới.
Điều này đòi hỏi các cán bộ tín dụng phải có kiến thức, năng lực, kỹ năng trong thẩm định, giao tiếp, thu hút khách hàng. Năng lực và yêu cầu năng lực cán bộ tín dụng 1. Năng lực cán bộ tín dụng Theo từ điển tiếng Việt (2012), năng lực làm việc là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động hoặc một công việc nào đó. Theo Bernard Wynne và David Stringer (1997), năng lực cá nhân bao gồm kỹ năng tích lũy được, kiến thức, cách cư xử và thái độ của một cá nhân áp dụng để hoàn thành một công việc nào đó.
Năng lực cá nhân cũng được hiểu là khả năng thực hiện một hoạt động nào đó của cá nhân đó. Do đó, khi xem xét năng lực của một đối tượng cụ thể, cần phải xem xét trên một lĩnh vực hoạt động cụ thể. Một cá nhân có năng lực làm việc trong lĩnh vực này nhưng không phải sẽ có năng lực làm việc trong lĩnh vực khác. Năng lực sẽ phụ thuộc nhiều vào môi trường, điều kiện hoạt động cụ thể nên khi xem xét năng lực, cần xem xét năng lực trong mối quan hệ với môi trường, điều kiện hoạt động của một tổ chức cụ thể.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu năng lực cán bộ tín dụng là khả năng đáp ứng được mục tiêu của một bộ phận, tổ chức. Năng lực bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ phẩm chất cá nhân và học hỏi sáng tạo khi thực hiện những hoạt động nhất định. Tại ngân hàng, năng lực cán bộ tín dụng là khả năng đáp ứng được mục tiêu cho vay hoặc quản lý khoản vay tại ngân hàng đó. Năng lực gồm các yếu tố như 7 kiến thức về tín dụng, kỹ năng chuyên môn, thái độ làm việc, phẩm chất cá nhân và học hỏi sáng tạo để tạo ra dư nợ không có nợ xấu nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của ngân hàng.
Yêu cầu năng lực đối vớicán bộ tín dụng ở ngân hàng chính sách xã hội Trong hoạt đông ngân hàng, cán bộ tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng, là cầu nối giữa khách hàng và ngân hàng. Cán bộ tín dụng là lực lượng mũi nhọn tiên phong trong các hoạt động chính, chủ yếu của ngân hàng chính sách xã hội, mang lại doanh thu, lợi nhuận cho ngân hàng. Cán bộ tín dụng là lực lượng quyết định cho vay hay không cho vay với khách hàng, là người chịu trách nhiệm chính về các khoản vay đã được giải ngân từ khâu thẩm định hồ sơ vay vốn, kiểm tra vốn vay có được sử dụng đúng mục đích hay không, quản lý dòng tiền để thu nợ, tất toán và xuất tài sản đảm bảo theo yêu cầu của khách hàng. Nếu khách hàng không có khả năng trả nợ vì bất cứ lý do gì, cán bộ tín dụng sẽ là người đi đôn đốc nợ cùng Tổ chức hộ nhận ủy thác, Tổ Tiết kiệm Vay vốn thực hiện thanh lý tài sản thế chấp, khởi kiện hoặc bán nợ tài sản theo cam kết của khách hàng.
Do đó, các yêu cầu về năng lực đối với cán bộ tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội gồm: * Yêu cầu về kiến thức - Nắm và hiểu được nội dung cơ bản của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng. - Nắm vững những nội dung cơ bản Nghị định của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. - Nắm vững được nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của NHCSXH. - Nắm chắc các đối tượng phục vụ của NHCSXH.
- Nắm vững các chủ trương, chính sách của Nhà nước và của ngành có liên quan đến công tác tín dụng trong phạm vi quản lý. - Nắm vững kiến thức, quy trình, thủ tục về nghiệp vụ cho vay, thẩm định dự án. 8 - Nắm chắc quy trình, thủ tục nghiệp vụ kế toán về cho vay, thu nợ, thu lãi, tiết kiệm., nghiệp vụ thủ quỹ, thu, chi tiền mặt. - Nắm vững phương pháp phân tích năng lực tài chính của dự án và khách hàng vay vốn.
- Nắm vững tình hình kinh tế - xã hội - tài chính - kỹ thuật liên quan đến lĩnh vực được giao * Yêu cầu vềkỹ năng Do đặc thù của Chi nhánh ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Cao Bằng, với số lượng cán bộ ít, tổ chức giao dịch tại Điểm giao dịch xã nên cán bộNHCSXH phải giỏi một việc, biết làm nhiều việc. Riêng đối với cán bộ tín dụng thì đòi hỏi phải thành thạo nhiều việc thì mới có thể hoàn thành công việc. Những kỹ năng cần thiết của một cán bộ tín dụng NHCSXH: - Biết thực hiện nghiệp vụ tín dụng như cán bộ tín dụng của các Ngân hàng khác. - Biết thực hiện nghiệp vụ kế toán cho vay khi tham gia Tổ giao dịch tại xã.
- Biết nghiệp vụ tin học cơ bản, tin học văn phòng (Word, Excel), biết thao tác thành thạo phần mềm giao dịch xã trên máy tính xách tay khi đi giao dịch tại Điểm giao dịch xã. - Biết thực hiện nghiệp vụ về ngân quỹ. Chủ trương của Ban điều hành NHCSXH là cán bộ tín dụng kiêm lái xe để chủ động trong việc tổ chức giao dịch tại xã, không tăng thêm biên chế.