LỜI MỞ ĐẦU PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU PHẦN 3: SỬ DỤNG SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành một trong các điểm đến đầu tư hấp dẫn thuộc khu vực Đông Á. Dân trí cao, thị trường lao động tiềm năng, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý gần với những thị trường chính của Đông Nam Á, ngành công nghiệp tiêu thụ hàng hóa tiềm năng, chính phủ cam kết cho sự phát triển của nền kinh tế và nền kinh tế khuyến khích cho việc đầu tư ở nhiều loại hình kinh doanh là những đặc điểm khiến cho Việt Nam trở thành đất nước thu hút được lượng lớn các nhà đầu tư trên thế giới. Việt Nam, bắt đầu đi lên từ một đất nước dân chủ, dưới sự điều hành của các nhà lãnh đạo hàng đầu như Chủ tịch nước, Thủ tướng và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản”– những người đã cam kết sẽ nâng cao nguồn tài nguyên quốc gia để thúc đẩy quá trình chuyển đổi đất nước hòa nhập với nền kinh tế thế giới. Ngoài ra, Vệt Nam cũng đã có những chiến lược linh hoạt và sử dụng các chính sách định hướng thị trường nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân kém phát triển, cũng như để đạt thành tựu ổn định nền kinh tế vĩ mô.
Trong khi đó, dịch vụ thuế ở Việt Nam vẫn còn đang là một vấn đề phức tạp và là một trong những mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp trong”hoạt động”kinh doanh. Tuân thủ đầy đủ các loại thuế, kế toán theo luật định và báo cáo thuế ngày càng phức tạp. Việc tập trung các chức năng tài chính và kế toán đem lại những thách thức bổ sung trong quá trình xử lý các quy tắc phức tạp về thuế tại địa phương, các công nghệ khác nhau và các quy trình thủ công trong chu trình tuân thủ quy định về thuế. Điều này dẫn đến rủi ro thất bại trong việc tuân thủ cao hơn và thời gian tối thiểu để dự báo hoặc hoạch định chiến lược.
Trong nhiều năm qua, những thay đổi của đại lý thuế trên thị trường có thể được mô tả trên ba khía cạnh chính là thay đổi công nghệ; thay đổi về loại khách hàng và những thay đổi trong loại dịch vụ được cung cấp bởi các đại lý mà nguyên nhân là từ những”thay đổi trong quy định”thuế. Thứ nhất, việc đổi mới công nghệ được coi là bước ngoặt trong cộng đồng đại lý thuế. Bên cạnh những phát triển chung hơn (như email), sự xuất hiện của Điện toán đám mây và dịch vụ tự động thường được coi là mang lại hiệu quả cao 3 hơn, dễ dàng và nhiều cơ hội hơn cho các đại lý. Các đại lý cũng dự đoán rằng những phát triển này sẽ làm cho thị trường nói chung cạnh tranh hơn, bằng cách cho phép các đại lý dễ dàng làm việc hơn trên các địa điểm và múi giờ khác nhau và cho phép phát triển các dịch vụ tự động, rẻ hơn.
Thứ hai là thay đổi về loại khách hàng và kỳ vọng, có sự đồng thuận chung giữa các đại lý rằng nhu cầu của khách hàng thuế là cá nhân đang thay đổi. Một quan điểm phổ biến cho rằng đã có sự gia tăng số lượng khách hàng trẻ, chưa thành đạt đang tìm kiếm những lời khuyên và sự tư vấn về thuế. Tuy nhiên, một số đại lý cũng nhận xét rằng sự già hóa dân số có nghĩa là công ty của họ đang chứng kiến số lượng khách hàng lớn tuổi ngày càng tăng với các nhu cầu cụ thể liên quan đến tuổi của họ. Nhiều đại lý đề cập rằng khách hàng đang trở nên thông thái hơn vì nguồn thông tin dễ truy cập hơn so với trước đây, mặc dù đã được lưu ý rằng những thông tin đó có thể bị sai lệch và sự hướng dẫn về thuế vẫn là cần thiết.
Nhiều đại lý từ các công ty hỗ trợ khách hàng thuế kinh doanh đã ghi nhận sự gia tăng số lượng các công ty khởi nghiệp, doanh nhân và khách hàng tự làm chủ trong năm năm qua. Thứ ba là thay đổi các dịch vụ đại lý và chuyên môn được gây ra bởi sự phức tạp hóa ngày càng tăng và sự thay đổi của pháp luật một cách nhanh chóng: Không thể phủ nhận rằng trong quá trình thay đổi nhanh chóng của luật thuế, một giao dịch được xem xét kỹ lưỡng sẽ dẫn đến kết quả tính thuế tích cực trong quá khứ và gây ra các vấn đề thuế mới cũng như một số kết quả thuế tiêu cực sau khi thay đổi luật. Trong khi các đại lý thuế đang phản ứng với những thay đổi trong pháp luật thay vì chủ động thực hiện những thay đổi này trong việc cung cấp dịch vụ của họ, có nhiều dấu hiệu cho thấy kế hoạch mang tính chiến lược đang được thay đổi nhiều hơn trong tương lai. Mối quan hệ giữa các chủ đề này được tóm tắt trong Hình 2.
4 Công nghệ phát triển và Sử dụng dịch vụ tự động tiết thông tin công khai trực kiệm thời gian cho các dịch tuyến giúp khách hàng có Công vụ tư vấn sinh lời thể cập nhật thường xuyên nghệ Khách Dịch hàng vụ Các dịch vụ được cung cấp được quyết định bởi nhu cầu của khách hàng, điều mà thường chịu sự tác động của các điều chỉnh pháp luật Hình 2.1: Mối quan hệ giữa khách hàng, công nghệ và xu hướng dịch vụ Với những thông tin nêu trên, có thể nói”dịch vụ tư vấn thuế là một trong những dịch vụ pháp lý”quan trọng, nhất là khi thực tiễn cho thấy cả luật thuế và”các quy định thuế”liên quan của Việt Nam đều không nhất quán và ổn định dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp trong việc cập nhật và linh hoạt áp dụng chính sách thuế. Nói cách khác, trong thời gian tới, hoạt động”tư vấn thuế tại Việt Nam”sẽ vô cùng năng động và thú vị, báo hiệu”sự cạnh tranh khốc liệt”trên thị trường dịch vụ”chuyên nghiệp. Để đi trước các đối thủ thì các doanh nghiệp, bao gồm cả Công ty TNHH Grant Thornton Việt Nam phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn thuế. Do đó, với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm Anh, tác giả chọn đề tài “Nâng cao dịch vụ tư vấn thuế tại Công ty TNHH Grant Thornton Việt Nam” để đem lại cái nhìn sâu và hoàn chỉnh hơn cho người đọc về loại hình dịch vụ này.Vấn đề nghiên cứu Việt Nam đã chứng kiến nền kinh tế nước nhà tăng trưởng một cách đáng kể trong thập kỷ qua dẫn đến nhu cầu phát triển các giải pháp tài chính cho cơ sở hạ tầng tại các thành phố của mình.
Trước”tình hình phát triển”của kinh tế thị trường”như hiện nay, ngoài các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như trước đây, ngày càng có nhiều công ty Việt Nam như các Công ty cổ phần cũng như Tập đoàn các công ty lớn đều có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn thuế. Bên cạnh đó, sự bùng nổ về nhu cầu trợ giúp và hướng dẫn các thủ tục liên quan đến thuế (từ”thủ tục đăng ký thành lập”doanh nghiệp,”thủ tục đăng ký thuế,mua hóa đơn, kê khai”và quyết toán thuế) của”các doanh nghiệp tư nhân, các chủ hộ kinh doanh, các cá nhân”hành nghề độc lập… vì đa số các công ty này “thiếu kinh nghiệm hoặc không bố trí nhân viên”xây dựng bộ phận làm Kế toán – Thuế ngay trong công ty…Chính nhu cầu cấp thiết đó dẫn đến sự ra đời của hàng loạt những công ty Tư vấn Thuế ở nước ta. Nếu so với gần 487.000 doanh nghiệp và 1,9 triệu hộ kinh doanh thuộc diện quản lý của cơ quan thuế (năm 2013) thì số lượng các đại lý thuế chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng dịch vụ của thị trường. Từ thực trạng đã nêu, các chuyên gia cho rằng”để phát triển hệ thống đại lý thuế”ở Việt Nam, nhà nước ta cần phấn đấu cả nước có ít nhất 8.000 đại lý thuế đến năm 2020 như mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020.
Đồng thời, cần đẩy mạnh”việc xã hội hoá hoạt động hỗ trợ người nộp thuế”và”từng bước nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ”của các đại lý thuế, góp phần”đơn giản hóa”thủ tục hành chính và”nâng cao hiệu quả quản lý”thuế. Hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kế toán, kiểm toán quan tâm đều đang rất quan tâm đến loại hình dịch vụ này. Tuy nhiên, vì các chính sách cũng như các điều Luật liên quan đến Thuế đều được thay đổi và cập nhật từng ngày nên các công ty cung cấp dịch vụ tư vấn và các nhà tư vấn thuế luôn phải ứng biến, cập nhật và nâng cao dịch vụ tư vấn thuế nhằm đem lại hiệu quả cao nhất và đáp ứng được nguyện vọng của khách hàng một cách tối đa. 6 Khóa luận sẽ dựa trên các lý thuyết thực tiễn và số liệu thu thập được liên quan đến loại hình dịch vụ tư vấn thuế để phân tích và đưa ra các nhận xét cũng như giải pháp để người đọc có một cái nhìn khái quát hơn về những hạn chế đang có của dịch vụ mà công ty TNHH Grant Thornton Việt Nam đang gặp phải.Tổng quan về nền tảng lý thuyết 2.Tổng quan về dịch vụ tư vấn thuế a.
Khái niệm Khái niệm tư vấn Về cơ bản, tư vấn là việc cung cấp cho các doanh nghiệp những lời khuyên mang tính khách quan và sự hỗ trợ liên quan đến chiến lược, cơ cấu, quản lý và hoạt động của một tổ chức nhằm theo đuổi các mục đích và mục tiêu dài hạn. Việc hỗ trợ có thể bao gồm các bước như sau: đưa ra lựa chọn cùng với các khuyến nghị, cung cấp các nguồn lực bổ sung và việc thực hiện các giải pháp. Hiệp hội Tư vấn Quản lý (MCA) ở Anh định nghĩa tư vấn là: “. tạo ra giá trị cho các tổ chức, thông qua việc áp dụng kiến thức, kỹ thuật và tài sản, để cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Điều này đạt được thông qua việc đưa ra lời khuyên khách quan và/hoặc thực hiện các giải pháp kinh doanh”. Theo Tiến sĩ Skipton Leonard: “Tư vấn cho tổ chức là một dịch vụ chuyên nghiệp cung cấp thông tin, lời khuyên hoặc giúp đỡ cho một tổ chức trong việc đáp ứng các mục tiêu hoặc giải quyết các vấn đề của nó”. Trong một định nghĩa ngắn gọn thì tư vấn là cung cấp lời khuyên bên ngoài cho các tổ chức đòi hỏi chuyên môn chuyên môn hoặc một quan điểm bên ngoài khách quan về doanh nghiệp của họ.