CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát chung về dịch vụ ngân hàng 1. Các khái niệm cơ bản Ngân hàng là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính chấp nhận tiền gửi và định kênh những tiền gửi đó vào các hoạt động cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn. Ngân hàng là kết nối giữa khách hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn.
Ngân hàng thương mại Theo luật các tổ chức tín dụng: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”. (Theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) Dịch vụ ngân hàng Cho đến thời điểm này có khá nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng. Theo cuốn sách “Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại” của tác giả David Cox thì hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng. Cụ thể dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ về vốn, tiền tệ, thanh toán…mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt, cuộc sống, cất trữ tài sản…nhờ đó ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí dịch vụ.
Theo cách định nghĩa của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra trong Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ thì: “Dịch vụ tài chính là bất kỳ loại hình dịch vụ nào mang tính chất tài chính được cung cấp bởi một nhà cung cấp dịch vụ tài chính. Dịch vụ tài chính bao gồm toàn bộ các dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, dịch 5 vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm). Điều đó có nghĩa dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính”. Trong bảng phân ngành dịch vụ của WTO được chia thành các phân ngành cụ thể sau: (1) Nhận tiền gửi và các khoản tiền gửi từ công chúng.
(2) Môi giới tiền tệ. (3) Cho thuê tài chính. (4) Tất cả các khoản thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thanh toán và hối phiếu ngân hàng. (5) Bảo lãnh và cam kết thanh toán.
(6) Phát hành các loại chứng khoán, bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành (cả phát hành công khai và không công khai) và cung ứng các dịch vụ liên quan đến hoạt động phát hành. (7) Tự doanh hoặc kinh doanh trên tài khoản của khách hàng, kể cả trên thị trường tập trung, thị trường OTC hoặc các thị trường khác. (8) Cho vay dưới mọi hình thức bao gồm cho vay tiêu dùng, thế chấp, bao thanh toán và các khoản tài trợ cho các giao dịch thương mại khác. (9) Quản lý tài sản gồm quản lý tiền mặt, quản lý danh mục, tất cả các hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ ủy thác, lưu ký và tín thác.
(10) Dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ đối với các tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ có thể chuyển nhượng khác. (11) Dịch vụ tư vấn, môi giới và các dịch vụ tài chính hỗ trợ khác liên quan đến tất cả các hoạt động nói trên, bao gồm cả việc tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và đầu tư theo danh mục, tư vấn đối với các hoạt động mua lại và tái cơ cấu doanh nghiệp cũng như xây dựng chiến lược. Theo Luật Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 nói đến các hoạt động của Ngân hàng thương mại đó là: 6 (1) Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. (2) Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
(3) Cấp tín dụng dưới các hình thức. (4) Cung ứng các dịch vụ thanh toán. (5) Cung ứng các phương tiện thanh toán. (6) Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài.
Tóm lại, dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả những hoạt động của ngân hàng, cung cấp các sản phẩm của ngân hàng nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng và tìm kiếm lợi nhuận từ những hoạt động nói trên. Các loại dịch vụ ngân hàng 1. Dịch vụ huy động vốn Nghiệp vụ huy động vốn được xem là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nghiệp vụ này sẽ mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động nghiệp vụ khác bao gồm cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ gia tăng của ngân hàng cho khách hàng. Tài sản nợ của Ngân hàng thương mại gồm 03 loại vốn chính: vốn huy động, vốn vay và vốn tự có.
Trong đó nguồn vốn huy động là chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất, vốn huy động có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng thương mại, đấy được coi là một trong những tiêu chí đánh giá uy tín, mức độ tín nhiệm của NHTM. Theo tính chất, vốn huy động được chia thành hai nhóm như sau: Nhóm 1: Vốn huy động không kỳ hạn, gồm có tiền gửi không kỳ hạn của các thành phần, tổ chức kinh tế, cá nhân và tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng khác. Với loại hình này khách hàng có thể sử dụng vốn linh hoạt, bất cứ thời điểm nào cũng có thể chuyển tiền, rút tiền. từ tài khoản.
Khách hàng gửi tiền vào tài khoản với hình thức huy động này mục đích không phải để hưởng lãi mà chủ yếu phục vụ nhu cầu giao dịch thanh toán. Do vậy, đối với sản 7 phẩm này ngân hàng cần có thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận lợi, an toàn để đảm bảo khả năng chi trả và thực hiện thanh toán cho khách hàng. Nhóm 2: Vốn huy động định kỳ, nhóm này gồm có tiền gửi định kỳ,tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân và tổ chức, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi…Đối với loại hình huy động này, khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn (tuy vậy bình thường các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng được rút tiền trước khi đến hạn). Khách hàng gửi tiền loại gửi định kỳ với mục đích chính là hưởng lãi, do đó ngân hàng nào có lãi suất cao, nhiều ưu đãi hấp dẫn hơn sẽ thu hút khách hàng gửi tiền hơn, vì vậy lãi suất trở thành một công cụ rất hữu ích cho các ngân hàng để thu hút nguồn vốn huy động định kỳ.
Dịch vụ tín dụng Hoạt động cho vay là một hình thức trong đó ngân hàng cung cấp cho khách hàng vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định và có cam kết hoàn trả gốc, lãi vào thời gian nhất định. Tuỳ theo mục đích sử dụng vốn và nhu cầu về thời gian vay vốn của khách hàng mà ngân hàng áp dụng các hình thức cho vay như: ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn để phù hợp với nhu cầu kinh doanh thực tế. Lãi suất cho vay áp dụng theo mức lãi suất trên thị trường hoặc theo mức độ uy tín để áp dụng mức lãi suất cho vay phù hợp với từng đối tượng cho vay. Một số hình thức cấp tín dụng như: cho vay trực tiếp đối với các cá nhân, doanh nghiệp, cho vay gián tiếp (chiết khấu chứng từ có giá, bao thanh toán.), cho vay thấu chi, cho vay thông qua thẻ tín dụng.
Dịch vụ thanh toán Theo Nghị định của Chính phủ số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/9/2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán: “Dịch vụ thanh toán là việc cung ứng dịch vụ thanh toán, thực hiện thu hộ, chi hộ, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán”. 8 Dịch vụ thanh toán mà các ngân hàng thương mại đang cung cấp hiện nay rất đa dạng gồm có cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ thu hộ, chi hộ, dịch vụ thanh toán quốc tế và dịch vụ thanh toán khác do Ngân hàng Nhà nước quy định. Hiện nay, các Ngân hàng thương mại tại Việt nam sử dụng các phương tiện thanh toán thông dụng bao gồm: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, thẻ thanh toán…. Dịch vụ ngân hàng điện tử Sự phát triển ngày càng cao của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, các ngân hàng đã nhanh chóng ứng dụng để tạo ra và cung cấp tốt nhất cho khách hàng những dịch vụ ngân hàng điện tử tiện ích.
Ngân hàng điện tử: là một trong nhiều ứng dụng công nghệ hiện đại của các Ngân hàng với khả năng xử lý thông tin trực tuyến dịch như: thanh toán và truy vấn online, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, giao dịch đơn giản nhanh chóng thuận tiện, an toàn mà không phải đến ngân hàng. Phát triển mảng dịch vụ này giúp các ngân hàng có thể thu hút thêm được một một lượng lớn khách hàng tiềm năng, góp phần tăng doanh thu phí dịch vụ. Dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam chủ yếu bao gồm những loại hình dịch vụ chủ yếu như: Mobile Banking là hình thức ngân hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng qua điện thoại di động. Khách hàng được cài đặt phần mềm ứng dụng của Ngân hàng trên điện thoại di động liên kết với tài khoản tại ngân hàng từ đó khách hàng có thể cập nhật sự biến động của tài khoản, gửi tiết kiệm, thực hiện các giao dịch chuyển khoản, liệt kê các giao dịch gần nhất và thực hiện các giao dịch thanh toán như thanh toán tiền điện, nước, tiền điện thoại, internet, đặt vé máy bay trực tuyến….
Call Center là một trung tâm hỗ trợ dịch vụ của mỗi ngân hàng thương mại nhằm mục đích giải đáp các thắc mắc hoặc hỗ trợ xử lý những yêu cầu, khiếu nại, thắc mắc, phàn nàn của khách hàng. Ví dụ trung tâm 247 của ngân 9 hàng Quân đội, tổng đài 24/7 của ngân hàng Eximbank, tổng đài 247/247 của ngân hàng Á Châu. Internet Banking là loại dịch vụ khách hàng có thể thực hiện thông qua website của ngân hàng.