chương 1. Phần đánh giá được tác giả phân tích chỉ tiết với các số liệu tương đối cập nhật. Tác giả đã đưa ra được các kết quả, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đối với phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử. Nguyễn Thị Phương Trâm (2008), Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: So sánh giữa mô hình SERVQUAL và GRONROOS - Luận văn thạc sỹ - Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử và sự thỏa mãn của khách hàng theo hai mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL và mô hình Chất lượng kỹ thuậUChất lượng chức năng.
Qua đó, điều chỉnh và bô sung các thành phần của chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, kiểm định và so sánh mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử và sự thỏa mãn của khách hàng theo mô hình SERVQUAL và mô hình Chất lượng kỹ thuật Chất lượng chức năng. Luận văn đã thực hiện nghiên cứu chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử thông qua nhóm khách hàng cá nhân đang sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã xác định được các thành phần ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử theo mô hình SERVQUAL và mô hình Chất lượng kỹ thuat/ Chat lượng chức năng. Mô hình SERVQUAL có hai thành phần ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, đó là thành phần đáp ứng và năng lực phục vụ và thành phần phương tiện hữu hình, trong đó thành phần phương tiện hữu hình tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng vẻ chất lượng dịch vụ nhiều hơn thành phần đáp ứng và năng lực phục vụ.
Mô hình Chất lượng chức năng/ Chất lượng kỹ thuật có 2 thành phần chất lượng chức năng và chất lượng kỹ thuật ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, trong đó thành phần chất lượng kỹ thuật tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng về dịch vụ nhiều hơn thành phần chất lượng chức năng. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra được kết quả so sánh giữa hai mô hình dựa vào. kết quả phân tích R2 hiệu chỉnh. Nghiên cứu cho thấy áp dụng mô hình Chất lượng.
kỹ thuật/Chất lượng chức năng để đo lường sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tốt hơn áp dụng mô hình SERVQUAL. Một số Luận văn Thạc sỹ khác có liên quan đến đề tài Pham Thi Thu Ha, “Nang cao chắt lượng dịch vụ khách hàng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tin, chỉ nhánh Thanh Trì”, Luận văn thạc sỹ ~ Đại học Kinh tế Quốc dan nam 2011; Dương Tuấn Minh, “Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng Công thương - Chỉ nhánh Tuyên Quang”, Luận văn thạc sỹ - Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2014; Nguyễn Thị Quỳnh Hương, “Nâng cao chất lượng dịch vụ của các NHTM Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế - Trường hợp cửa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ - Đại học Ngoại Thương năm. 2008; Bai Thị Thu Hằng, “Mới số giải pháp phát triển dịch vụ tại sở giao dịch ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam ", Luật văn thạc sỹ - Học Viện Tài Chính năm 2009; Pham Thị Phương, “Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng trực tuyến tại Ngân hàng Thương mại Cổ phân Đại Dương”, Luận văn thạc sỹ - Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2013. Hướng nghiên cứu của tác giả Các công trình nghiên cứu trên về cơ bản đã hệ thống hóa được các nội dung.
lý luận về dịch vụ và chất lượng dịch vụ. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu này cũng đã tổng hợp, khái quát hóa được các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ phổ biến như SERVQUAL, SERVPERF, GRONROOS. Về dịch vụ ngân hàng. điện tử, các nghiên cứu trên cũng tông hợp, phân tích mô tả khá chỉ tiết các dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là trong ngành ngân hàng, một số sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử mới chưa được cập nhật Mặt khác, tính đến thời điểm hiện tại, tại Ngân hàng TMCP Bắc Á chưa có một công trình nghiên cứu nào thực hiện khảo sát ý kiến khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, cũng như sử dụng mô hình SERVPERF trong đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử nhằm đưa ra những giải pháp mang tính khả thi, phù hợp đối với Ngân hàng TMCP Bắc Á. Trén cơ sở kế thừa một số nội dung có tính lý luận của các học giả, tác giảtập trung vào nghiên cứu những vấn đề mà các công trình nghiên cứu trên chưa nghiên cứu đến áp dụng tại Ngân hàng TMCP Bắc Á. Cụ thể Một là hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ nói chung và chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng Thương mại nói riêng. Hai là vận dụng mô hình SERVPERF để xây dựng các tiêu chí đánh giá nhằm phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Bắc A.
Ba là đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Bắc Á. 10 CHUONG 2: CO SO LY LUAN VE CHAT LUQNG DỊCH VỤ VA CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 2. Dịch vụ và chất lượng dịch vụ 2. Khái niệm Cũng giống như sản phẩm hữu hình, dịch vụ (sản phẩm vô hình) là kết quả đầu ra của một quá trình hay một hoạt động nào đó.
Tuy nhiên, do tính chất vô hình của nó nên dịch vụ được định nghĩa là "kết quả của một quá trình hay một hoạt đông nào đó nhưng không thể nhìn thấy được, không đo được và không đếm được”. Thực tế có rất nhiều định nghĩa khác nhau vẻ dịch vụ. Các học giả, đứng trên từng. quan điểm riêng của mình nên cũng có những quan niệm, định nghĩa khác nhau về dịch vụ.
Hiện tại, có một số quan niệm sau về dịch vụ: Theo quan điểm truyền thống: "Những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất là dịch vụ". Theo quan điểm này, dịch vụ bao gồm các lĩnh vực hoạt động như: giáo dục, đào tạo, tài chính, ngân hàng, khách sạn, tiệm ăn, bán buôn bán lẻ, hiệu sửa chữa, giải trí, bảo tàng, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm, tư vấn, giao thông vận tải, các phương tiện công cộng, dịch vụ công. Theo cách hiểu phổ biến: "Dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu." Theo ISO8402: "Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa.
người cung ứng và khác hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng." Theo Zeithaml & Britner (2000):"Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm. thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. 1 Theo Kotler & Armstrong (2004):"Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Dac diém Dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác so với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tinh không ổn định, tính không thể chia cắt và tinh không thê lưu trữ được.
Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ không thể nhận dạng bằng mắt thường và trở nênkhó định lượng. Tính vô hình (hay phi vật chất): Hàng hoá có hình dáng, kích thước, màu sắc và thậm chí cả mùi i, vi thé khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình hay không. Nhưng ngược lại, dịch vụ mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng trở nên vô ích khi muốn đánh giá một dịch vụ trước khi mua. Chỉ khi sử dụng khách hàng mới cảm nhận được dịch vụ đó tốt hay dở ở điểm nào.
Điều này khiến dịch vụ khó bán hơn hàng hóa. Tính không Ổn định: Mỗi khách hàng có một sở thích, thói quen khác nhau do có sự khác nhau về khu vực địa lý, sự ảnh hưởng của các nền văn hóa khác nhau tới lối sống, sự khác nhau về tâm lý, kinh nghiệm trải qua việc sử dụng nhiều lần. nên họ có những yêu. cầu, đánh giá khác nhau về chất lượng dịch vụ.
Từ đó có thẻ thấy được rằng, thật khó có thể đưa ra tiêu chuẩn chung cho một sản phẩm dịch vụ. Điều này buộc người làm dịch vụ phải đưa ra cách phục vụ thích hợp với từng đối tượng khách hàng nhằm đáp ứng một cách cao nhất nhu cầu của khách hàng. Tỉnh không thê chia cắt được: Tính không thể chia cắt được của dich vụ thể hiệ ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn riêng biệt là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời.
Điều này không đúng đối với hàng hoá vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nắc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Đối với sản phẩm hàng hoá, khách hàng chỉ sử 12 dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Đối với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, vi dụ như chất lượng xảy. ra trong quá trình chuyển giao dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ.
Đối với những dịch vụ đòi hỏi phải có sự tham gia ý kiết của người tiêu dùng thì công ty dịch vụ ít thực hiện việc kiểm soát, quản lý về chất lượng vì người tiêu dùng ảnh hưởng đến quá trình này. Trong những trường hợp như vay, y trở nên quan trọng đối với chất lượng của hoạt động dịch vụ. Tính không lưu giữ được: Dich vu không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hoá khác. Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu én định.