CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ - Khái niệm dịch vụ Có nhiều cách quan niệm khác nhau về dịch vụ.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [8; tr.256] Theo Điều 4, Khoản 2 của Luật giá năm 2012: Dịch vụ là hàng hóa mang tính vô hình, trong quá trình sản xuất và tiêu dùng không hề tách rời nhau, bao gồm những loại dịch vụ trong hệ thống các ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa dịch vụ. Trong marketing, Philip Kotler đã nêu lên quan niệm về dịch vụ là: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Xét về bản chất, dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. Bất kỳ dịch vụ nào cũng đều gắn với mục tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng/sử dụng dịch vụ. - Khái niệm dịch vụ ngân hàng Theo bảng phân loại các ngành dịch vụ trong WTO, có nhiều loại dịch vụ khác nhau tùy theo ngành và phân ngành như: Dịch vụ kinh doanh, dịch vụ tài chính; dịch vụ liên lạc, dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và dịch vụ xã hội, dịch vụ xây dựng, Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành, Dịch vụ giáo dục … Theo tài liệu này, dịch vụ tài chính bao gồm: Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm; DVNH và các dịch vụ tài chính.
Như vậy, theo Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATS của WTO quy định thì DVNH được coi như một loại hình trong hệ thống dịch vụ tài chính, nó bao gồm các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác. Ví dụ như: + Nhận tiền gửi và các các quỹ có thể hoàn lại trong công chúng; + Cho vay dưới hình thức, bao gồm: Tín dụng ngân hàng, tín dụng cầm cố. + Cho thuê tài chính. + Các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền.
+ Các dịch vụ lưu ký và tín thác; + Dịch vụ môi giới tiền tệ + Cung cấp và chuyển tiếp thông tin tài chính và xử lý các dữ liệu tài chính và các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác. + Các dịch vụ tư vấn và trung gian môi giới, các dịch vụ tài chính phụ trợ khác, kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn về mua lại và tái cơ cấu chiến lược doanh nghiệp [16]. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế mang tính ngày càng sâu rộng, có thể hiểu khái niệm DVNH theo nghĩa chung nhất là một bộ phận của dịch vụ tài chính, gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng (hoạt động tín dụng, tiền tệ, ngoại hối, thanh toán, …) mà các ngân hàng thương mại có thế cung ứng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, đồng thời mang lại lợi nhuận cho chính các ngân hàng thương mại cung ứng dịch vụ đó. Nền kinh tế - xã hội càng phát triển thì để đáp ứng nhu cầu đời sống con người thì ngày càng có nhiều loại hình dịch vụ tài chính nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng.
Hiện nay, DVNH của NHTM thường được chia thành các nhóm cụ thể như : Nhóm dịch vụ huy động vốn (dịch vụ nhận tiền gửi); Nhóm dịch vụ tín dụng; Nhóm dịch vụ thanh toán; Nhóm dịch vụ kinh doanh ngoại tệ; Nhóm dịch vụ thẻ và nhóm DVNH điện tử. - Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Thuật ngữ “Ngân hàng bán lẻ” có từ gốc tiếng Anh là Retail banking. Theo đó, việc các NHTM cung cấp DVNH bán lẻ tức là cung cấp các sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng với số lượng nhỏ. Điều này khác với ngân hàng bán buôn chuyên cung cấp cho người trung gian với số lượng lớn.
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) quan niệm: dịch vụ ngân hàng bán lẻ là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng, ở đó các khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những chi nhánh hoặc phòng/điểm giao dịch của các ngân hàng về các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ khác … Trong “Từ điển giải nghĩa Tài chính – Đầu tư – Ngân hàng – Kế toán Anh Việt”, do Nhà xuất bản khoa học và kinh tế phát hành năm 1999 đưa ra định nghĩa: Dịch vụ NHBL là các DVNH được thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với DVNH bán buôn là DVNH dành cho các định chế tài chính và những DVNH được cung cấp với số lượng lớn. Theo từ điển Ngân hàng và tin học: Retail banking – DVNH bán lẻ là dịch vụ dành cho đông đảo quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân khác … Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á - AIT thì dịch vụ NHBL là việc cung ứng sản phẩm, DVNH tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, DVNH thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông… Trong cuốn Từ điển Ngân hàng và Tin học thì Retail banking -dịch vụ NHBL - là DVNH dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính, bao gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân. Hiện nay ở Việt Nam chưa có khái niệm về dịch vụ NHBL. Trong Luật các Tổ chức tín dụng, không có định nghĩa và giải thích rõ ràng về dịch vụ NHBL.
Tại khoản 12, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng chỉ giải thích chung cho hoạt động ngân hàng bao gồm ba hoạt động: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Từ những cách tiếp cận trên, có thể thể hiểu một cách khái quát như sau: Dịch vụ NHBL là cung ứng các sản phẩm DVNHcho các đối tượng, chủ yếu là cá nhân, hộ gia đình, DNNVV thông qua mạng lưới chi nhánh bằng các kênh phân phối truyền thống hoặc kênh phân phối điện tử. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ - Dịch vụ NHBL phục vụ nhiều đối tượng khách hàng. Số lượng khách hàng lớn là đặc điểm nổi bật của dịch vụ NHBL, bởi đối tượng phục vụ của NHBL bao gồm gồm nhiều thành phần trong xã hội, khách hàng bao gồm cả các cá nhân, hộ gia đình, DNNVV.
Dịch vụ NHBL là những dịch vụ cung ứng tiện ích và sản phẩm đến tận tay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình, các DNNVV (tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt), trong khi đó nhóm đối tượng khách hàng này lại có mức thu nhập, thói quen, sở thích… khác nhau. Vì vậy, để hoạt động có hiệu quả, các NHTM cung ứng dịch vụ NHBL phải thường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu kỹ về đối tượng khách hàng, các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng sản phẩm; kể cả nhu cầu về loại sản phẩm và thực hiện chính sách chăm sóc khách hàng phù hợp nhất để ngày càng gia tăng số lượng khách hàng. - Dịch vụ NHBL giảm mức độ rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Nền kinh tế biến động theo tính chu kỳ, ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến các lĩnh vực ở mức độ khác nhau.
Đối với dịch vụ NHBL, khi nền kinh tế biến động thì các đối tượng khách hàng cũng chịu tác động nhất định, tuy nhiên các khác hàng là tổ chức, DNNVV thường chịu mức độ ảnh hưởng nặng hơn so với khách hàng cá nhân. Khi đó, nguồn vốn ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng của nền kinh tế. Vì thế, dịch vụ NHBL góp hạn chế, phân tán rủi ro cho hệ thống ngân hàng trong một số lĩnh vực nghiệp vụ. - Dịch vụ NHBL có danh mục sản phẩm đa dạng.
Trong các đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL thì khách hàng chiếm tỷ lệ chủ yếu là khách hàng cá nhân. Với đối tượng khách hàng này, sự khác nhau về thu nhập, trình độ dân trí, hiểu biết, tính cách, sở thích, độ tuổi, nghề nghiệp… sẽ tạo ra các nhu cầu sản phẩm dịch vụ khác nhau, vì thế dịch vụ NHBL phải có danh mục sản phẩm đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng. Không những thế, nhu cầu của khác hàng cá nhân, hộ gia đình còn mang tính thời điểm, nên dịch vụ NHBL phải cũng phải nhanh nhạy trong việc nắm bắt, dự báo nhu cầu của khách hàng, từ đó tạo ra sự đa dạng và thay đổi liên tục các loại sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu khách hàng. - Dịch vụ NHBL phát triển trên nền tảng ứng dụng công nghệ hiện đại.
Với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, hiện nay khách hàng có thể tiếp cận với các DVNH ở bất kỳ thời điểm nào, ở bất kỳ nơi đâu nhờ vào DVNH trực tuyến. Do đó, trước sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, để ngày một nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM thì công nghệ tiên tiến và phát triển dịch vụ là hai yếu tố quan trọng. Trong đó, công nghệ hiện đại (công nghệ thông tin) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ NHBL hiện nay.