Phần mở đầu Phần nội dung Chƣơng I. Cơ sở lý luận và thực tiễn vận dụng tƣ tƣởng sƣ phạm tích hợp trong dạy học vật lí ở trƣờng THPT. Chƣơng II. Xây dựng tiến trình dạy học một số bài về phần “Sóng ánh sáng" theo hƣớng gắn với thực tiễn góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học vật lí ở trƣờng THPT.
Chƣơng III. Thực nghiệm sƣ phạm. 5 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG DẠY HỌC TÍCH HỢP THEO HƢỚNG GẮN VỚI THỰC TIỄN GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƢỜNG THPT. Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu.
Việc có nhiều môn học đã đƣợc đƣa vào nhà trƣờng phổ thông hiện nay là sự thể hiện quá trình mục tiêu giáo dục toàn diện. Các môn học phải có sự liên kết với nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục. Mục tiêu của giáo dục là phát triển HS một cách toàn diện về kiến thức kĩ năng. Trong nhà trƣờng có nhiều môn học khác nhau nhƣng chúng đều có những nét chung cơ bản nhƣ: - Hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng theo yêu cầu khoa học bộ môn.
- Phát triển tƣ duy, năng lực sáng tạo cho HS phù hợp với đặc trƣng môn học. - Giáo dục HS thông qua quá trình dạy học bộ môn (hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, nhân cách). Hiện nay các tri thức khoa học, kinh nghiệm của loài ngƣời phát triển nhƣ vũ bão, trong khi đó thời gian HS ngồi trên ghế nhà trƣờng là có hạn do đó không thể đƣa thêm nhiều môn học vào trong nhà trƣờng mặc dù những kiến thức, kinh nghiệm đó là rất cần thiết. Do đó cần tích hợp những kiến thức, kinh nghiệm của con ngƣời vào trong các môn học đã có trong nhà trƣờng và cũng có sự tích hợp các môn học với nhau.
Quá trình dạy học tích hợp đƣợc hiểu là một quá trình dạy học trong đó toàn thể các hoạt động học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trƣớc những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tƣơng lai, hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động. Mục tiêu cơ bản của dạy học tích hợp là nâng cao chất lƣợng giáo dục học sinh phù hợp các mục tiêu giáo dục của nhà trƣờng. 6 Dạy học tích hợp hƣớng tới thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm khác nhau của cùng một môn học cũng nhƣ của các môn học khác nhau, hƣớng tới đào tạo học sinh có năng lực đáp ứng đƣợc thách thức lớn của xã hội ngày nay là có đƣợc khả năng huy động hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình huống xuất hiện, hoặc có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chƣa từng gặp. Tƣ tƣởng sƣ phạm đó gắn liền với việc phát triển năng lực để giải quyết vấn đề, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học.
- Tình hình nghiên cứu DHTH. Hiện nay dạy học tích hợp đang là một xu hƣớng của lý luận dạy học đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm và thực hiện. Ở nƣớc ta có nhiều môn học, cấp học quan tâm đến vận dụng TTSP tích hợp vào qua trình dạy học để nâng cao chất lƣợng giáo dục. Một số công trình nghiên cứu khoa học về DHTH: Dƣơng Tiến Sỹ (2001), Giảng dạy tích hợp các khoa học nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục.
Nguyễn Văn Khải (2008),Vận dụng tƣ tƣởng sƣ phạm tích hợp trong dạy học vật lí ở trƣờng phổ thông để nâng cao chất lƣợng giáo dục học sinh. Vũ Thị Thanh Hà (2008), Vận dụng tƣ tƣởng sƣ phạm tích hợp trong dạy học một số kiến thức về “Hạt nhân nguyên tử” lớp 12 nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục học sinh. Đinh Xuân Giang (2009), Vận dụng tƣ tƣởng sƣ phạm tích hợp trong dạy học một số kiến thức về “Chất khí” và “cơ sở của nhiệt động lực học” vật lí 10 cơ bản nhằm phát triển hứng thú và năng lục vận dụng kiến thức của học sinh. Trong các đề tài nghiên cứu khoa học về DHTH ở trên thì chƣa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về quá trình dạy học tích hợp theo hƣớng 7 gắn với thực tiễn nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học.
Trong đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ nghiên cứu về vấn đề dạy học tích hợp gắn với thực tiễn. Khái niệm về dạy học tích hợp (DHTH). Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp. - Khái niệm tích hợp.
Theo từ điển tiếng Pháp thì nghĩa của từ “tích hợp” là: “gộp lại, sát nhập vào thành một tổng thể". Theo từ điển tiếng Việt [33]: ”Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa hợp, kết hợp”. Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ [31]: ”Tích hợp là hệ thống phối hợp các thiết bị và công cụ khác nhau để cùng làm một việc với nhau trong một hệ thống – Một chƣơng trình nhằm giải quyết những nhiệm vụ chung nào đó”. - Về dạy học tích hợp Xavier Roegier (1996) [21] dùng thuật ngữ: "La pedagogie de l’integration" và đƣợc dịch là "khoa sƣ phạm tích hợp" (KSPTH).
Vì vậy, lí thuyết SPTH có thể hiểu nhƣ một lý thuyết hay một tƣ tƣởng giáo dục, cũng có thể hiểu nhƣ một phƣơng pháp dạy học, tùy theo ngữ cảnh sử dụng cụ thể. Với ý nghĩa là một lí thuyết chỉ đạo hoạt động dạy học nên trong nhiều tài liệu ngƣời ta cũng thƣờng dùng thuật ngữ “dạy học tích hợp". Với lí do nhƣ vậy, khi vận dụng vào một môn học cụ thể, chúng tôi cũng sẽ sử dụng thuật ngữ "dạy học tích hợp". - Theo Xavier Roegiers (1996) [21, tr.
73]: “lý thuyết SPTH là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trƣớc những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tƣơng lai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động- Lí thuyết SPTH tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa". 8 Ngoài các quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực, lí thuyết SPTH dự định những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những động tác đã lĩnh hội một cách rời rạc". Một quan niệm khác về sự tích hợp giáo dục: "Tích hợp giáo dục là quá trình học sinh dƣới sự chỉ đạo của giáo viên thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của một môn học sang ngôn ngữ môn học khác mà nhờ quá trình đó học sinh nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển các phẩm chất cá nhân" 19. Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, Theo Dƣơng Tiến Sỹ (2001) 23 ; tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn đƣợc đề cập trong các môn học đó.
Từ góc độ lý luận dạy học, theo Nguyễn Văn Khải [12] : ”Dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liên kết các tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của học sinh. Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy đƣợc năng lực tự lực, phát triển tƣ duy sáng tạo. Dạy học tích hợp các khoa học sẽ làm giảm trùng lặp nội dung dạy học các môn học, việc xây dựng chƣơng trình môn học theo hƣớng này có ý nghĩa quan trọng làm giảm tình trạng quá tải của nội dung học tập, đồng thời hiệu quả dạy học đƣợc nâng lên. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, đòi hỏi của xã hội, nhiều tri thức cần thiết mới đều muốn đƣợc đƣa vào nhà trƣờng”.
Mặc dù có các quan niệm khác nhau về dạy học tích hợp, song có thể thống nhất ở một tƣ tƣởng: Tích hợp là một phƣơng pháp sƣ phạm mà ngƣời học huy động mọi nguồn lực để giải quyết một "tình huống phức hợp có vấn đề". Các phương thức tích hợp. Roegiers nêu lên hai nhóm lớn các phƣơng pháp tích hợp các môn học: - Đƣa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học. - Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau.
Dạng tích hợp thứ nhất. Đƣa ra những ứng dụng chung cho những môn học khác nhau đồng thời vẫn duy trì các quá trình học tập riêng rẽ. Những ứng dụng này có thể đƣợc giảng dạy: - Cuối năm học trong một đơn nguyên tích hợp. - Trong suốt năm học, nhằm giúp HS lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã đƣợc lĩnh hội.
- Cách tích hợp thứ nhất: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học ở cuối năm học hay cuối bậc học. Ở đây ngƣời ta tích hợp các môn học ở một bài hay một đơn nguyên tích hợp ở cuối mỗi năm học. Có thể đƣa ra sơ đồ hóa nhƣ ở hình 1.1: Nội dung môn 1 Bài học hoặc Nội dung môn 2 bài tập tích hợp Nội dung môn 3 Hình 1.1 Cách tích hợp thứ nhất. - Cách tích hợp thứ hai: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học.
Mục đích giúp HS lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã học. ở đây GV luôn quan tâm đặt các quá trình học tập vào định hƣớng tích hợp, song vẫn duy trì các môn học riêng rẽ (do bản chất các môn học, hoặc do các môn học đƣợc các GV khác nhau dạy). Đây là trƣờng hợp phổ biến ở trƣờng phổ thông hiện nay khi chƣơng và SGK, GV giảng dạy phân hóa sâu sắc. Nói một cách khác, việc tích hợp các môn học chỉ đƣợc thực hiện qua chƣơng trình và SGK và ngƣời GV chƣa thực sự chủ động đặt các quá trình học tập của HS vào định hƣớng tích hợp.
Sơ đồ hóa cách tích hợp thứ hai nhƣ hình 1.2: 10 Môn 1 Bài học Môn 1 Bài học hoặc hoặc bài bài tập tập tích Môn 2 tích hợp Môn 2 hợp Môn 3 Môn 3 Hình 1. Cách tích hợp thứ hai 1. Dạng tích hợp thứ hai Cách tiếp cận bằng tình huống tích hợp. Phối hợp các quá trình của nhiều môn học khác nhau.
Cách tích hợp này dẫn đến phải hợp nhất hai hay nhiều môn học thành một môn học duy nhất. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu xây dựng chƣơng trình và tài liệu học tập cho phù hợp, thƣờng phức tạp.