Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Dạy học theo hướng tích cực hóa người học trên thế giới Trong đời sống xã hội loài người, các hoạt động như kinh tế, văn hóa - nghệ thuật, chính trị - pháp luật, khoa học - kỹ thuật,… tưởng chừng khác nhau nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Những hoạt động này càng đa dạng và phong phú thì càng phản ánh sự phát triển của xã hội.
Nhưng sự phát triển của nó không phải tự thân, đó là sự kế thừa của những thành tố ưu việt của cái cũ và được tích lũy thêm những điểm mới tiến bộ hơn. Từ đó, con người có nhu cầu truyền đạt lại cho nhau và cho những thế hệ sau để tiếp tục vận dụng vào quá trình lao động, cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm chinh phục tự nhiên. Thế nhưng việc truyền đạt cũng sẽ không giống nhau trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau. Giáo dục thời kỳ sơ khai cổ đại, để truyền đạo, giáo dục luân lý,… con người đã dùng đến phương pháp ghi chép, học thuộc lòng.
Tuy nhiên, từ thế kỷ XVIII đến XX, những nhà nghiên cứu lý luận giáo dục đã thay đổi và đồng tình với phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học như J. Dewey (1916) nhà nghiên cứu lý luận giáo dục Mỹ vào thế kỷ XX đã đặt nền móng cho triết lý giáo dục thời bấy giờ. Nội dung lý luận của ông là sự phát triển của chủ nghĩa kinh nghiệm trong triết học vào trong giáo dục, được ông gọi là chủ nghĩa hành động (hay chủ nghĩa thực dụng). Trong nhiều ấn phẩm của Dewey như: Dân chủ và giáo dục, Kinh nghiệm và giáo dục, Cách ta nghĩ,… đã phản ánh một nền giáo dục tiến bộ với những tư tưởng mới, nó đối lập với nền giáo dục trước đây mà nước Mỹ sử dụng.
Ông cho rằng trong hoạt động dạy học, việc học phải thông qua tự trải nghiệm, đề cao giá trị tự do của người học, lợi ích của cuộc sống được gắn liền trong học tập và sự thích ứng của người học với sự thay đổi của môi trường. Từ đó, giáo dục góp phần quan trọng để người học có thể phát triển kinh nghiệm cá nhân và những 6 trải nghiệm này chính là những thành tố quan trọng đưa họ là trung tâm của một nền giáo dục ưu việt [9]. Ông cho rằng, để đạt kết quả cao nhất trong học tập thì cần tạo môi trường cho người học có thể trao đổi với môi trường học tập và họ có cơ hội sử dụng kinh nghiệm cá nhân trong hoạt động đó. Từ những luận điểm của ông về giáo dục chính là tiền đề quan trọng để xây dựng và phát triển một lý thuyết học tập thông qua kinh nghiệm và từ đó đào tạo người dạy thích ứng với nền giáo dục tiến bộ đó.
Các luận điểm học tập thông qua những trải nghiệm được khẳng định là những phương pháp cốt lõi của giáo dục trải nghiệm. Như vậy, khi người học được trực tiếp kết nối bài học với các hoạt động trải nghiệm, qua đó xác định, đánh giá những hoạt động được tham gia rút ra những nội dung quan trọng, hữu ích cần nhớ và áp dụng những nội dung này để vận dụng vào các hoạt động khác trong tương lai [4], [10], [11]. Dewey (1938) trong công trình Experience and education và Carl Rogers (1986) trong công trình Freedom to learn đã đặt cơ sở cho quan điểm “Lấy người học làm trung tâm”. Những nhà lý luận giáo dục này đã nhấn mạnh lợi ích, nhu cầu chính đáng của người học, từ đó kiến nghị trong hoạt động dạy học người học có quyền tự nghiên cứu và lựa chọn nội dung học tập phù hợp.
Với tư tưởng đó, xu hướng thiết kế chương trình học tập đề cao lợi ích, nhu cầu của người học đã xuất hiện và dần thay thế cho những quan điểm lấy nội dung môn học làm trung tâm (Barry & King, 1993) [1]. Kolb (1984), là nhà lý luận giáo dục người Mỹ có nhiều nghiên cứu tập trung vào học tập kinh nghiệm. Từ lý thuyết Học thông qua kinh nghiệm của J. Kolb đã kế thừa và phát triển để cho ra lý thuyết Học thông qua trải nghiệm.
Ông cho rằng, vai trò trung tâm của quá trình học là kinh nghiệm của người học “Học tập là quá trình mà kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm. Kết quả của kiến thức là sự kết hợp giữa nắm bắt kinh nghiệm và chuyển đổi nó” [41, tr. Học tập qua trải nghiệm (Experiential-learning) được hiểu là một phương pháp học dựa vào trải nghiệm thực tế, những đánh giá và phân tích của người học theo kinh nghiệm và kiến thức sẵn có để hình thành nên tri thức mới. Để làm được điều này, 7 người dạy phải áp dụng phương pháp dạy học như một người hỗ trợ thay vì hướng dẫn (non-directive facilitator) và phải phù hợp với phong cách của người học.
Với cách làm này, người học có thể tích lũy được kiến thức từ trải nghiệm thực tiễn. Phong cách học giống với thói quen học tập, được hình thành từ kinh nghiệm và có chọn lọc. Học thuyết Những phong cách học tập được đặt tên theo bốn giai đoạn của quá trình học, chứ không đơn thuần một phong cách học mà còn có rất nhiều phương pháp khác nhau và phong cách học tập phù hợp của mỗi cá nhân trong nhóm làm việc. Nếu hoạt động hiệu quả, các nhóm này dần dần có thể hỗ trợ cho nhau từ những điểm mạnh, điểm yếu của các thành viên.
Đây là sự thay đổi trong phương pháp học tập theo nhóm. Kolb, mặc dù mỗi người sẽ yêu thích một giai đoạn nhất định, nhưng thông qua bốn giai đoạn học tập, quá trình học tập có thể trở nên dễ dàng hơn [15]. Từ hoạt động dạy học trong lĩnh vực giáo dục, quan điểm dạy học theo hướng tích cực hóa người học đã dần dần trở nên phổ biến. Trong “Thuật ngữ giáo dục người lớn” của UNESCO (1979) với ba thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp đã sử dụng thuật ngữ “giáo dục căn cứ vào người học”, “giáo dục tập trung vào người học” với khái niệm là “sự giáo dục mà nội dung quá trình học tập và giảng dạy được xác định bởi nhu cầu, mong muốn của người học và kích thích người học tham gia tích cực vào việc hình thành và kiểm soát, sự giáo dục này huy động những nguồn lực và kinh nghiệm của người học” [44, tr.
Singh (1991, 1996) xem quan niệm “lấy người học làm trung tâm” như một quan điểm, một tư tưởng hay nói cách khác là cách tiếp cận mới trong hoạt động dạy học. Theo Ông tư tưởng này đồng nghĩa với việc vai trò của người học cùng với những hoạt động học có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vị trí trung tâm trong hoạt động dạy học lúc này là người học, họ vừa là chủ thể vừa là mục đích của quá trình học tập. Từ những luận điểm trên, Ông kiến nghị trong quá trình dạy học cần thay thuật ngữ “lấy người dạy làm trung tâm” thành “lấy người học làm trung tâm”.
Ông đã viết “Làm thế nào để cá thể hóa quá trình học tập để cho tiềm năng của mỗi cá nhân được phát triển đầy đủ đang là một thách thức chủ yếu đối với giáo dục” [37], [38]. 8 Trong cuốn Dạy cách học ở đại học của nhóm tác giả D. Fuller (2000), quá trình dạy học đã được nghiên cứu và phân chia thành các chiến lược; một số chiến lược học mà người dạy cần truyền đạt bao gồm: các chiến lược quản lý kế hoạch cá nhân; các chiến lược xác nhận kết quả học tập và các chiến lược thu thập và xử lý thông tin. Các chiến lược học đóng vai trò quan trọng quá trình dạy và học.
Với mỗi chiến lược, các phương pháp dạy học cần phải được lựa chọn để phù hợp với mỗi đối tượng người học khác nhau, ở chương trình đại học. Ngoài ra, một số hoạt động của người dạy trên lớp cần giúp người học thực hành và luyện tập các chiến lược dạy học khác nhau để phát huy được tính tích cực, sáng tạo, chủ động trong quá trình học tập của người học [3]. Petty (2001), với công trình nghiên cứu Giảng dạy ngày nay đã đề cập đến ba nhóm phương pháp dạy học bao gồm Lấy người học làm trung tâm, Tích cực hóa người học và Lấy người dạy làm trung tâm. Từng nhóm phương pháp cụ thể đã được tác giả phân tích những điểm mạnh và những hạn chế [31, tr.
Từ đó, đưa đến kiến nghị về việc người dạy cần biết phối kết hợp những phương pháp trong hoạt động dạy học để khắc phục những hạn chế kể trên và khẳng định những phương pháp được sử dụng trong dạy học phải phát huy tính khả dụng và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn “Các phương pháp giảng dạy khác nhau phát triển những kỹ năng khác nhau của học viên” [31, tr. Công trình của J. Bondi (2009), đã xây dựng chương trình học theo cách hướng dẫn thực hành lại tiếp cận từ nghiên cứu và đánh giá những tác động lớn lao của các thành tựu khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, truyền thông, trí tuệ nhân tạo đã tạo ra sự biến đổi về chất của việc học tập và giảng dạy. Nhóm tác giả viết: “Internet làm một cuộc cách mạng giảng dạy và học tập bằng cách hạn chế sự kiểm soát của giáo viên trong việc tiếp cận học tập.
Nó là công cụ học tập đặt người sử dụng (người học) vào ghế người lái và cho phép người lái tiếp cận, xây dựng kiến thức không cần sự giúp đỡ. Vai trò của người thầy sẽ hoàn toàn được xác định lại theo công cụ này” [35, tr. Qua đó, công trình chỉ ra 18 phương pháp giảng dạy thường được giáo viên sử dụng: thảo luận; rèn luyện; thí nghiệm; kinh nghiệm thực tế; 9 đi thực tập; làm việc theo nhóm; phân tích so sánh; hội thảo; trình bày; chuẩn đoán; sự quan sát trực tiếp; kinh nghiệm phòng thí nghiệm; thuyết giảng; các hoạt động tay chân hoặc dùng xúc giác; mô hình hoặc bắt chước; giải quyết vấn đề; giảng dạy chương trình hóa; giảng dạy với sự giúp đỡ của máy tính [35, tr. Tuy vậy, những phương pháp dạy học này mới chỉ được các tác giả liệt kê ra chưa bàn luận cụ thể để xác định được những tác động của nó trong quá trình dạy học như thế nào.