Luận văn thạc sĩ ứng dụng mùn sinh học đóng bánh befgmydt 041206d nâng cao chất lượng đất bạc màu trên một số loại cây trồng chính trên địa bàn huyện phục hòa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ứng dụng mùn sinh học đóng bánh BEFGMYDT 041206D cải thiện chất lượng đất bạc màu, hỗ trợ cây trồng chính tại huyện Phục Hòa.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2014

82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu đề tài

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Nội dung nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC CẢI TẠO ĐẤT

2.1.1. Trên thế giới

3. CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu

3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.2.1. Điều tra, khảo sát vùng thực hiện đề tài

3.2.2. Xây dựng mô hình thử nghiệm mùn sinh học đóng bánh befgmydt- 041206D

3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - KỸ THUẬT SỬ DỤNG

3.3.1. Phương pháp nghiên cứu

3.3.2. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây trồng

3.3.2.1. Đối với cây ngô
3.3.2.2. Đối với cây mía

3.3.3. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu chất lượng đất

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. ĐIỀU TRA KHẢO SÁT VÀ LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG MÔ HÌNH

4.1.1. Điều tra khảo sát khu vực xây dựng mô hình huyện Phục Hòa

4.1.2. Lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình

4.1.3. Mô hình thử nghiệm cho cây ngô

4.1.4. Mô hình thử nghiệm cho cây mía

4.2. KHẢO NGHIỆM MÔ HÌNH ỨNG DỤNG MÙN SINH HỌC ĐÓNG BÁNH BEFGMYDT - 041206D

4.2.1. Kết quả khảo nghiệm đối với cây ngô

4.2.1.1. Đặc điểm thực hiện
4.2.1.2. Kết quả theo dõi thí nghiệm
4.2.1.2.1. Tại xã Mỹ Hưng
4.2.1.2.2. Tính toán hiệu quả kinh tế cho mô hình trồng ngô xã Mỹ Hưng
4.2.1.2.3. Tính toán hiệu quả kinh tế cho mô hình trồng ngô TT.

4.2.2. Kết quả khảo nghiệm đối với cây mía

4.2.2.1. Đặc điểm thực hiện
4.2.2.2. Kết quả theo dõi thí nghiệm
4.2.2.3. Tính toán hiệu quả kinh tế cho mô hình trồng mía

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Kết quả điều tra khảo sát và lựa chọn địa điểm thực hiện mô hình

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Chất lượng đất và đất bạc màu

Chất lượng đấtđất bạc màu là hai vấn đề chính được đề cập trong nghiên cứu. Đất bạc màu tại huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn và rửa trôi. Điều này dẫn đến mất độ phì nhiêu, giảm năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế thấp. Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc cải tạo đất để phục hồi khả năng sản xuất. Mùn sinh học được xem là giải pháp hữu hiệu để cải thiện chất lượng đất, tăng cường độ phì nhiêu và khôi phục cân bằng sinh học trong đất.

1.1. Tình trạng đất bạc màu tại huyện Phục Hòa

Đất bạc màu tại huyện Phục Hòa đang đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Nguyên nhân chính là do xói mòn, rửa trôi và phương thức canh tác lạc hậu. Đất mất đi các chất dinh dưỡng cần thiết, dẫn đến năng suất cây trồng thấp. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng mùn sinh học có thể giúp cải thiện tình trạng này bằng cách cung cấp chất hữu cơ và vi sinh vật có lợi cho đất.

1.2. Vai trò của mùn sinh học trong cải tạo đất

Mùn sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo đất bạc màu. Nó giúp tăng khả năng trao đổi cation, cải thiện cấu trúc đất và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng. Nghiên cứu sử dụng mùn sinh học đóng bánh BEFGMYDT-041206D để đánh giá hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng đất và tăng năng suất cây trồng.

II. Cải tạo đất và nông nghiệp bền vững

Nghiên cứu tập trung vào việc cải tạo đất thông qua ứng dụng mùn sinh học để phát triển nông nghiệp bền vững. Việc sử dụng phân bón hữu cơ và các kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến giúp tăng cường độ phì nhiêu của đất, đồng thời bảo vệ môi trường. Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp cải tạo đất phù hợp với điều kiện địa phương tại huyện Phục Hòa.

2.1. Phương pháp cải tạo đất bằng mùn sinh học

Nghiên cứu đề xuất phương pháp cải tạo đất bằng cách sử dụng mùn sinh học đóng bánh BEFGMYDT-041206D. Phương pháp này giúp cung cấp chất hữu cơ và vi sinh vật có lợi, cải thiện cấu trúc đất và tăng khả năng giữ nước. Kết quả thử nghiệm cho thấy sự cải thiện đáng kể về chất lượng đất và năng suất cây trồng.

2.2. Phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Phục Hòa

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Phục Hòa. Việc áp dụng các kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến và sử dụng phân bón hữu cơ giúp tăng cường độ phì nhiêu của đất, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp cụ thể để nâng cao năng suất cây trồng và cải thiện đời sống người dân.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã đạt được những kết quả tích cực trong việc cải tạo đất bạc màu bằng mùn sinh học. Kết quả thử nghiệm trên cây ngô và cây mía cho thấy sự cải thiện rõ rệt về chất lượng đất và năng suất cây trồng. Nghiên cứu cũng đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng mùn sinh học, từ đó đề xuất các giải pháp ứng dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp tại huyện Phục Hòa.

3.1. Kết quả thử nghiệm trên cây ngô và cây mía

Kết quả thử nghiệm cho thấy việc sử dụng mùn sinh học đóng bánh BEFGMYDT-041206D giúp tăng năng suất cây ngô và cây mía đáng kể. Đất được cải tạo có độ phì nhiêu cao hơn, cây trồng phát triển tốt hơn và ít bị sâu bệnh hại. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc sử dụng mùn sinh học giúp giảm chi phí phân bón và tăng hiệu quả kinh tế.

3.2. Ứng dụng thực tiễn và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp ứng dụng mùn sinh học vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp tại huyện Phục Hòa. Các biện pháp bao gồm: xây dựng mô hình thử nghiệm, hướng dẫn nông dân sử dụng mùn sinh học và đánh giá hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu cũng khuyến nghị các cơ quan chức năng hỗ trợ nông dân trong việc áp dụng các kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến để phát triển nông nghiệp bền vững.

09/03/2025
Luận văn thạc sĩ ứng dụng mùn sinh học đóng bánh befgmydt 041206d nâng cao chất lượng đất bạc màu trên một số loại cây trồng chính trên địa bàn huyện phục hòa

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời. Tuy nhiên quỹ đất sử dụng cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, vấn đề suy thoái đất hiện đang diễn ra ở nhiều nơi của nước ta đặc biệt là ở những vùng đồi núi. Phương thức canh tác lạc hậu cùng với việc bón phân hóa học, thuốc trừ sâu không hợp lý đã làm đất nhanh chóng bị chai cứng và mất sức sản xuất.

Xu hướng hiện nay là phát triển một nền nông nghiệp hữu cơ nhằm sử dụng đất trồng hiệu quả, bền vững và thân thiện với môi trường. Cao Bằng có gần 95.000 ha, đất dành cho sản xuất nông nghiệp, chiếm 14,12% đất tự nhiên toàn tỉnh. Mặc dù là một tỉnh miền núi biên giới, chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khắc nghiệt song ngành nông nghiệp của Cao Bằng vẫn khá phát triển. Cây trồng chủ yếu của tỉnh gồm các cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn); cây công nghiệp ngắn ngày (đỗ tương, lạc, mía, thuốc lá); cây ăn quả; và cây công nghiệp (chè đắng).

Tuy nhiên hiệu quả sử dụng đất ở nơi đây còn thấp, hệ số sử dụng đất mới đạt khoảng 1,3 lần. Đất nông nghiệp ở Cao Bằng cũng đã và đang bị suy thoái, trở nên bạc màu, nghèo chất dinh dưỡng do quá trình xói mòn, rửa trôi xảy ra khá mạnh hàng năm. Đất mất sức sản xuất dẫn tới cây trồng cho năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao.[08] Mùn sinh học đóng bánh Befgmydt – 041206D là một loại phân hữu cơ, có tác dụng cung cấp chất hữu cơ và các vi sinh vật sống cho đất nhằm khôi phục cân bằng tự nhiên trong đất cần thiết cho sự sinh trưởng của cây trồng. Mùn sinh học có tác dụng làm tăng khả năng trao đổi cation của đất, khôi phục khả năng sản xuất của các loại đất thoái hóa, bạc màu và hoạt động như một chất đệm trong đất, giúp cho cây trồng khắc phục được ảnh hưởng có hại do đất quá chua hay quá kiềm.

Vì vậy nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng mùn sinh học đóng bánh BEFGMYDT – 041206D nâng cao chất lượng đất bạc màu trên một số loại cây trồng chính trên địa bàn huyện Phục Hòa” thuộc địa bàn tỉnh Cao Bằng là rất cần thiết, nhằm cải tạo đất, nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, góp phần phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu đề tài: 1. Mục tiêu nghiên cứu Nâng cao hiệu quả canh tác và tiết kiệm phân bón, phát triển nông nghiệp bền vững. Xây dựng được quy trình công nghiệp áp dụng có hiệu quả cho vùng đất bạc màu ở huyện Phục Hòa, Tỉnh Cao Bằng.

Nội dung nghiên cứu Điều tra, khảo sát để lựa chọn địa điểm nghiên cứu. Xây dựng mô hình thử nghiệm mùn sinh học đóng bánh BEFGMYDT- 041206D Đánh giá chất chất lượng đất được cải tạo trên địa bàn huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng Đánh giá năng xuất một số loại cây trồng chính khi dùng chế phẩm bánh sinh học BEFGMYTDT-041206D. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Được học tập, và nghiên cứu đề tài khoa học cùng các cán bộ khoa học, cán bộ nhà nước giúp nâng cao kinh nghiệm kiến thức cho bản thân, làm tăng khả năng nghiên cứu khoa học đặc biệt là đối với chế phẩm sinh học giúp cải thiện môi trường và sản xuất ra các sản phẩm thân thiện với môi trường nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Giúp sinh viên vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn sản xuất và nâng cao trình độ nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho sinh viên và những người có liên quan, góp phần phát triển ngành sản xuất cây trồng chính của hộ nông dân. Lưu giữ nguồn vật liệu cho nghiên cứu khoa học sau này. Ý nghĩa thực tiễn Thí nghiệm mùn sinh học đóng bánh để so sánh năng xuất cây trồng khi sử dụng mùn sinh học đóng bánh và cách trồng, bón phân theo truyền thống của địa phương, phân tích chỉ tiêu đất trước khi trồng và sau khi trồng giúp cải thiện đất xám bạc mầu.

Từ đó khuyến cáo đưa và sản xuất giúp tăng hiểu quả sản xuất và cải thiện cuộc sống của người dân. n 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC CẢI TẠO ĐẤT 2. Trên thế giới Từ những năm cuối của thế kỷ XVIII, các nhà nông học trên thế giới đã nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên những vùng đất bằng theo hướng đưa thêm một số loại cây trồng vào hệ canh tác nhằm làm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích.

Ở châu Âu đã đưa khoai tây, cây củ quả, cỏ 3 lá vào hệ thống cây trồng: ngũ cốc – ngũ cốc - bỏ hoá. Làm cho năng suất ngũ cốc tăng lên gấp 2 lần và sản lượng lương thực, thực phẩm trên 1 ha đất canh tác tăng gấp 4 lần. Ở châu Á vào những năm đầu thập kỷ 70 đã đưa cây hoa màu trồng cạn và hệ thống cây trồng trên lúa. Gần đây vấn đề khai thác nông nghiệp vùng đồi núi theo hướng đa dạng hoá cây trồng, trồng kết hợp cây hàng năm, cây lâu năm, cây rừng, cây nông nghiệp trên đất bạc màu cho hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ đất được nhiều tác giả đề cập: Rambo, 1984; Hamillton, 1981 – 1990; Gomez A.

Theo số liệu của FAO thì diện tích đất nông nghiệp hiện nay của toàn thế giới là 1 tỷ 476 triệu ha, trong đó đất bạc màu chiếm 65,9%. Ở châu Á – Thái Bình Dương tổng số đất nông nghiệp là 453 triệu ha, đất đồi núi chiếm 77,4%. Do hậu quả của việc sử dụng đất bạc màu không hợp lý, nên trên hành tinh này hiện có tới 544 triệu ha mất khả năng canh tác.[09] Vấn đề rất lớn đặt ra là do việc sử dụng đất bạc màu không hợp lý nên tình trạng xói mòn và tình trạng đất bạc màu thành đất trống đối trọc ngày một tăng: ở Nepal trên đất du canh có thể làm mất 100 tấn đất/ha/năm; ở loại đất bạc màu trung bình mất 20 tấn đất/ha/năm. Lượng các chất dinh dưỡng trong đó bị rửa trôi mất tới 100–200 kg/ha/năm như: N, P, K.

Ở Apganistan có tới 39,8 triệu ha đất miền núi bị thoái hoá; ở Bangladesh có trên 1 triệu ha đất đồi có chiều hướng bị thoái hoá. Cộng đồng quốc tế từ lâu đã nhận thấy sa mạc hoá là một vấn đề rất rộng liên quan đến cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường của nhiều quốc gia trên n 4 thế giới. Năm 1977, Hội nghị về Sa mạc hoá của UNCOD đã thông qua một Kế hoạch hành động chống sa mạc hoá (PACD). Tuy nhiên, theo đánh giá của Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) vào năm 1991, thoái hoá đất vẫn gia tăng ở các khu vực khô hạn, bán khô hạn và vùng ẩm nửa khô hạn, dù đã có một số "thành công mang tính cục bộ".

Vì vậy chống sa mạc hoá vẫn là một vấn đề chính tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (UNCED) tại Rio de Janeiro - Brazil năm 1992. Hội nghị đã nhất trí thông qua một phương pháp tiếp cận đa ngành mới, tập trung vào các hoạt động nhằm thúc đẩy phát triển bền vững ở cấp cộng đồng. Hội nghị cũng yêu cầu Đại hội đồng Liên hợp quốc thành lập một Uỷ ban đàm phán liên chính phủ (INCD) để chuẩn bị văn kiện Công ước chống sa mạc hoá (UNCCD). Tháng 12 năm 1992, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thống nhất thông qua Nghị quyết 47/188 về UNCCD và sau 5 cuộc họp của Uỷ ban đàm phán liên chính phủ, Công ước UNCCD đã được phê chuẩn tại Paris ngày 17 tháng 6 năm 1994 và để các bên ký kết vào ngày 14-15 tháng 10 năm 1994.

Công ước có hiệu lực vào ngày 26 tháng 12 năm 1996. Đây là một trong 3 công ước Rio về môi trường quan trọng nhất của Liên hợp quốc (UNCCD, UNFCCC, UNCBD). Cho đến nay, Công ước đã có hiệu lực 12, với gần 200 thành viên. Hội nghị các bên tham gia Công ước lần thứ 5, tháng 10 năm 2001 tại Geneva, Thuỵ Sỹ đã quyết định lấy Ngày 17/6 hàng năm là ngày quốc tế chống sa mạc hoá.

Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng lại không làm tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Đất đai đối với sản xuất và đời sống của cộng đồng dân cư có ý nghĩa quan trọng và vô cùng cần thiết. Một số chương trình hội thảo, nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về cải tạo đất bạc màu, chống xói mòn a. Hội thảo Quốc tế về thoái hoá đất tại Bangkok, Thailand.

[11] Từ 27- 30/4/2009, Cục Phát triển Đất đai, Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thailand phối hợp với FAO tổ chức hội thảo về “Thoái hóa đất trên đất khô vùng Đông nam Á”. Dự hội thảo có trên 60 đại biểu đến từ nước chủ nhà; các nước thuộc n 5 vùng Đông nam Á, trong đó có Việt Nam; Trung Quốc; các chuyên gia FAO về các lãnh vực bảo vệ nguồn tài nguyên đất, nước, thổ nhưỡng. Hội thảo đã nghe các chuyên gia FAO báo cáo về kết quả triển khai đề tài chống thoái hóa đất (LADA) của FAO tại 6 nước: China, Argentina, Tunisia, Cuba, Senegal và South Africa; trình bày các phương pháp điều tra, phân tích đánh giá đất, dự báo tình hình suy thoái dựa trên các yếu tố liên quan đến điều kiện kinh tế xã hội, tự nhiên của từng nước. Các chuyên gia FAO/LADA, nước chủ nhà, Trung Quốc và các nước Đông nam Á đã chia sẽ nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động chống thoái hóa đất ở 3 cấp độ: toàn cầu, quốc gia và địa phương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng cao chất lượng đất bạc màu bằng mùn sinh học tại huyện Phục Hòa" trình bày các phương pháp cải thiện chất lượng đất bạc màu thông qua việc sử dụng mùn sinh học. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phục hồi đất để nâng cao năng suất cây trồng, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc sử dụng hóa chất. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích rõ ràng từ việc áp dụng mùn sinh học, không chỉ giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về các phương pháp phòng trị bệnh cho gia súc, bạn có thể xem tài liệu Luận văn áp dụng biện pháp phòng chẩn đoán điều trị bệnh cho đàn gia súc gia cầm tại xã bình minh thanh oai hà nội. Cuối cùng, nếu bạn quan tâm đến việc phát triển cây trồng bền vững, hãy đọc thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng hiệu quả hơn trong lĩnh vực nông nghiệp.