CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ 1.1 Khái niệm về đào tạo và đào tạo nghề 1.1 Khái niệm về đào tạo Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết. Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. Đào tạo là quá trình biến đổi con người, từ đầu vào với phẩm chất và năng lực nhất định đến đầu ra có phẩm chất và năng lực cao hơn nhằm đáp ứng một yêu cầu cụ thể về phân công lao động xã hội tại một cơ sở đào tạo.
Đào tạo là quá trình vận dụng một quy luật khách quan tác động vào con người nhằm hình thành nhân cách, tri thức, kỹ năng và ứng xử để họ có thể đảm nhận sự phân công lao động cụ thể của xã hội.2 Khái niệm về đào tạo nghề Luật Dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 định nghĩa: “Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau đó là dạy nghề và học nghề. 5 + Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thực hành nhất định về nghề nghiệp.
+ Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn. Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề ta có loại hình đào tạo ngắn hạn và đào tạo dài hạn. + Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề.
Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên. + Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ. Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn. Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo lại nghề, đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề.
+ Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa được học nghề. Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo nghề cho xã hội. + Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn. Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới.
Đào tạo lại thường được 6 hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề. + Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn. Như vậy, nội dung của đào tạo nghề bao gồm: trang bị các kiến thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm một nghề nhất định. Đào tạo nghề bao gồm: đào tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện tử, xây dựng, sửa chữa); đào tạo nhân viên nghiệp vụ (nhân viên đánh máy, nhân viên văn phòng, nhân viên lễ tân, nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp thị, nhân viên kế toán,.) và phổ cập cho người lao động (chủ yếu là lao động nông nghiệp).
Việc xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn. Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Luật giáo dục qui định hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học. Hệ thống đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân được thực hiện ở các cấp khác nhau, ở lứa tuổi khác nhau và được phân luồng để đào tạo nghề phù hợp với trình độ văn hóa, khả năng phát triển của con người và độ tuổi.
Hệ thống khung giáo dục quốc dân cho thấy sự liên thông giữa các cấp học, các điều kiện cần thiết để học nghề hoặc các cấp học tiếp theo. Nó là cơ sở quản lý giáo dục, nâng cao hiệu quả của đào tạo, tránh lãng phí trong đào tạo (cả người học và xã hội), tránh trùng lặp nội dung chương trình, đồng thời là cơ sở đánh giá trình độ người học và cấp các văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp.2 Đặc điểm, vai trò và yêu cầu của Đào tạo nghề 1. Đặc điểm Hiện nay, các trường đào tạo nghề ở nước ta phần lớn là do Nhà nước quản lý, chỉ có ít các trường hợp dân lập, ở đây ta chỉ đề cập các trường dạy nghề công lập. Đặc điểm chung của các trường này hiện nay là: - Trường có nhiều ngành nghề khác nhau.
- Mỗi giáo viên có thể dạy nhiều môn khác nhau. - Cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu, thiết bị và công nghệ phục vụ dạy nghề không theo kịp thực tế sản xuất. - Trình độ giáo viên không cao. - Trình độ đầu vào của học sinh thấp.
- Có nhiều đối tượng đào tạo, bậc thợ và thời gian đào tạo khác nhau. Vai trò và yêu cầu của đào tạo nghề - Thứ nhất, về mặt lý thuyết, các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: (1) áp dụng công nghệ mới, (2) phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại, (3) nâng cao chất lượng NNL. Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực khác là hữu hạn và ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, thì NNL có chất lượng chính là vũ khí mạnh mẽ nhất để giành thắng lợi trong cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Nguồn nhân lực chất lượng cao là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo (nói cách khác, đó chính là năng lực thực hiện của NNL).
Năng lực thực hiện này chỉ có thể có được thông qua đào tạo nghề và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, ngay cả việc tích lũy kinh nghiệm này cũng dựa trên nền tảng là đào tạo nghề nghiệp cơ bản. Như vậy, có thể thấy, vai trò quyết định của đào tạo nghề nghiệp đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực hiện của con người. Trên cơ sở năng lực này, NNL ngành nghề có khả năng thích ứng được với những thay đổi của công nghệ và nền kinh tế (cả tích cực và tiêu cực), điều này góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng trưởng 8 kinh tế bền vững, từ đó tạo ra nền tảng vật chất cơ bản để thực hiện các chính sách an sinh xã hội (ASXH).
- Thứ hai, vai trò của đào tạo nghề nghiệp đối với đảm bảo ASXH xuất phát từ khía cạnh lợi ích cá nhân của con người (NNL ngành nghề trọng điểm ). Lý thuyết về vốn nhân lực hiện đại cho rằng “Tất cả các hành vi của con người đều xuất phát từ những nhu cầu lợi ích kinh tế cho chính các cá nhân hoạt động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh”. Nội dung chính của lý thuyết này cho rằng, các cá nhân đầu tư vào đào tạo nghề nhằm tích luỹ những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, những cái có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó và đó là nhân tố cơ bản cho sự phát triển bền vững. Như vậy đầu tư cho đào tạo nghề chính là sự đầu tư cho từng cá nhân, dưới giác độ xã hội tạo ra chất lượng NNL với các “tầng” khác nhau (trình độ cao, trình độ phổ quát, đại trà) và do đó, mang lại không chỉ lợi ích kinh tế quốc dân mà còn thực hiện đảm bảo ASXH quốc gia.
Nhà kinh tế học Becker đã đưa ra bằng chứng về mối tương quan giữa trình độ nghề nghiệp và thu nhập: học vấn và kỹ năng nghề càng cao, thu nhập càng tăng và ngược lại. Thực ra, vấn đề này đã được Lê Nin từng đề cập. Ông đã chứng minh rằng, có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng suất lao động của NNL ngành nghề trọng điểm.