CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO LÁI XE Ô TÔ 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Khái niệm đào tạo nghề Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đang có nhiều định nghĩa về đào tạo nghề. Theo Max Forter (1979) đưa ra khái niệm đào tạo nghề là phải đáp ứng hoàn thành 4 điều kiện: (1) Gợi ra những giải pháp ở người học; (2) Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ; (3) Tạo ra sự thay đổi trong hành vi; (4) Đạt được những mục tiêu chuyên biệt.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: đào tạo nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao. Theo Bộ LĐTB và XH (năm 2002), đào tạo nghề được hiểu là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kĩ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học được một nghề trong xã hội. Và nghề là một dạng của hoạt động lao động trong hệ thống phân công lao động xã hội. Nó là sự tổng hợp của sự hiểu biết và thói quen trong lao động mà con người tiếp thu được do kết quả đào tạo chuyên môn và tích lũy trong quá trình làm việc.
Ở mỗi nghề đòi hỏi phải có một kiến thức lý thuyết và một kỹ năng thực hành nhất định để hoàn thành một công việc xác định trong xã hội (nghề lái xe, nghề may, nghề mộc, nghề cơ khí, nghề xây dựng, nghề giáo viên. Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. Đào tạo nghề là tổng hợp những hoạt động cần thiết cho phép người lao động có được những kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành nhất định để tiến hành một nghề cụ thể trong xã hội. [7] Đặc biệt, tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 xác định: đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ 7 nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề [7]. Như vậy, đào tạo nghề là quá trình trang bị cho người học một cách có hệ thống về kiến thức, kỹ năng kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp đối với công việc hiện tại và trong tương lai. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình là dạy nghề - học nghề, chúng có quan hệ hữu cơ với nhau. Nếu dạy nghề là quá trình giảng viên/ giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên trang bị đạt được một trình độ, kỹ năng thành thục và kỹ xảo khéo léo nhất định về nghề nghiệp.
Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành về kỹ năng của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Vai trò của đào tạo nghề Có thể khẳng định rằng, phát triển đào tạo nghề có vai trò hết sức to lớn và quan trọng để đóng góp vào sự phát triển cho toàn xã hội1. Và mục đích của việc đào tạo và phát triển nghề là sử dụng có hiệu quả hơn nguồn nhân lực hiện có, nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả của tổ chức [12]. Việc đào tạo nghề sẽ mang lại lợi ích như: - Đối với các đơn vị đào tạo, các doanh nghiệp: Đào tạo nghề là một khâu quan trọng trong hệ thống giáo dục của các quốc gia.
Nó tác động trực tiếp rõ rệt đến chất lượng đội ngũ lao động tại các cơ sở trực tiếp sản xuất trong nền kinh tế. Trong các đơn vị đào tạo hay các doanh nghiệp, nguồn lực là một tài nguyên quý giá nhất. Bên cạnh đó, nền kinh tế có tính chất toàn cầu của thời buổi hội nhập thế giới đã làm cho các tổ chức, các đơn vị đào tạo, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải thích ứng với môi trường kinh doanh quốc tế, phải thay đổi tư duy, kiến 1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động về cơ bản có 4 nhóm nhân tố tác động đến: (i) Tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (ii) Cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế; (iii) Đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển dạy nghề; (iv) Thái độ xã hội về nghề và công tác đào tạo nghề. 8 tạo cách thức và hành động trong một điều kiện cạnh tranh.
Và họ xem đào tạo nghề là những quy trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty (Theo William Mc. Nói cách khác, việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng của nguồn nhân lực trong tổ chức và doanh nghiệp, sẽ giúp mọi người phấn khởi vì được phát triển bản thân, có nhận thức tốt hơn về mục tiêu của tổ chức, có khả năng thực hiện tốt công việc, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, không ngừng tăng năng suất lao động, giảm được chi phí sản xuất và không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh.[23] - Đối với bản thân những người lao động: Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến - hiện đại như hiện nay, người lao động phải luôn luôn nâng cao trình độ văn hóa và nghiệp vụ chuyên môn để không bị tụt hậu: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức của toàn bộ cuộc sống con người thực hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng [6]. Nhờ được đào tạo và không ngừng nâng cao trình độ và kỹ năng nghề cao (cầm tay chỉ việc) thì mỗi lao động sẽ tự tin hơn, có thái độ tích cực hơn, biết thích ứng với kỹ thuật mới, bớt đi sự lo lắng khi đảm nhận các công việc mới, biết ra các quyết định tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, sáng tạo hơn đồng thời chính họ sẽ tăng sự thõa mãn trong công việc, tăng động lực làm việc cũng như nâng cao niềm tự hào nghề nghiệp của bản thân và gắn bó hơn với tổ chức [17].
Với cơ cấu lao động của mọi nền kinh tế thì lao động qua đào tạo nghề phải chiếm 70-80% lao đông qua đào tạo nói chung. Chất lượng đào tạo càng tốt thì vốn con người càng cao, qua đó nâng cao năng suất lao động. Như vậy, đào tạo nghề là thành tố quan trọng có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực. - Đối với nền kinh tế - xã hội Ở Việt Nam với sự chuyển đổi của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, nên đã tạo ra những biến đổi sâu sắc về hệ thống cơ cấu nghề nghiệp của xã hội.
Trong cơ chế thị trường, nhất là ở nền kinh tế tri thức như hiện nay, sức lao động được xem là một thứ hàng hóa. Giá trị của thứ 9 hàng hóa sức lao động này phụ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động. Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này ở mức độ nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường.
Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm [17] thông qua đào tạo nghề. Các lý thuyết tăng trưởng gần đây cũng chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: (i) áp dụng công nghệ mới; (ii) phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại; và (iii) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực khác là hữu hạn với nguy cơ ngày càng cạn kiệt, thì đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đã, đang và sẽ là vũ khí mạnh mẽ nhất để giành thắng lợi trong cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Có thể nói, đào tạo nghề là một nhân tố có vị trí quan trọng, có khả năng quyết định những vấn đề về phát triển kinh tế, tiến bộ kỹ thuật và sức cạnh tranh của tất cả các thị trường trên thế giới.
Nói cách khác, đào tạo nghề góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được bền vững. Ngoài ra, với quy luật cung cầu của cơ chế thị trường là căn cứ chi phối về cơ cấu nghề nghiệp của xã hội; đây cũng là nguồn thông tin khách quan để hạch toán cơ cấu đào tạo nghề cho hợp lý. Vì sự thành công về kinh tế của một quốc gia được xem như kết quả của mối quan hệ giữa nội dung và cấu trúc của hệ thống giáo dục với chất lượng người lao động. Sự mất cân bằng giữa thị trường lao động và tỷ lệ tăng trưởng đi xuống thường được quy cho chất lượng hệ thống giáo dục dạy nghề không đủ đáp ứng nhu cầu và sự phối hợp thiếu hiệu quả giữa một bên là nội dung giảng dạy và bằng cấp của hệ thống giáo dục quốc gia với một bên là những yêu cầu về chất lượng và yêu cầu công việc của hệ thống tuyển dụng.
Do đó, nhà nước hiện nay luôn lấy đó làm nền tảng cơ bản nhất để triển khai phát triển hệ đào tạo nghề tại địa phương mình nhằm phục vụ nền kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững. Để có được đội ngũ những người lao động đạt chất lượng cao thì phải đầu tư, mà đầu tư cho giáo dục nói chung và dạy nghề nói riêng là đầu tư cho phát triển.