Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP HUYỆN 1. Căn cứ xây dựng đề án 1. Cơ sở pháp lý về chất lượng công chức - Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 89/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP; - Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025; - Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chương trình quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2019 - 2030” v.v… Qua đó, trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, xây dựng phát triển đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng. - Đảng ta đặc biệt coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, xác định đây là nhiệm vụ cấp thiết, quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19 tháng 5 năm 2018 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã đặt ra các yêu cầu hoàn thiện năng lực đối với đội ngũ cán bộ các cấp đến năm 2030, trong đó yêu cầu đối với xây dựng đội ngũ cán bộ có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Để xây dựng được đội ngũ này, bên cạnh công tác tuyển dụng, thu hút nhân lực thì công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế là một yếu tố đóng vai trò then chốt. Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 đã xác định nhiều mục tiêu, 9 trong đó: tiếp tục xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động và thực tài. Đến năm 2025 phấn đấu xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có cơ cấu hợp lý, đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định và đến năm 2030 xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý.
- Quyết định số 02/2020/UBND ngày 10/01/2020 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. - Quyết định số 43/2021/QĐ-UBND ngày 23/11/2021 của UBND tỉnh ban hành quy định phân công, phân cấp quản lý, tổ chức bộ máy, biên chế, số lượng người - làm việc, vị trí việc làm của tỉnh Quảng Bình - Quyết định số 6246/QĐ-UBND ngày 27/10/2021); Quy chế phối hợp giữa Thường trực HĐND và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận TQVN thành phố Đồng Hới giai đoạn 2021-2026; Quy chế phối hợp công tác giữa Thường trực HĐND và UBND thành phố Đồng Hới khoá XXII, nhiệm kỳ 2021-2026; Quy định số lượng cấp phó của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Đồng Hới. - Chỉ thị 19-CT/TU ngày 17/01/2013 của Tỉnh ủy Quảng Bình về chấn chỉnh và tăng cường kỷ luật, xiết chặt kỷ cương hành chính trong cán bộ, công chức. - Sở Nội vụ số 1548/SNV-CBCCVC ngày 04/12/2020 về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
- Công văn số 219-CV/TU ngày 01/11/2016 của Thành ủy Đồng Hới về việc tiếp tục tăng cường xiết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm trong thực thi công vụ. Cơ sở lý luận về chất lượng công chức 1. Khái niệm chất lượng Chất lượng theo nghĩa chung là thuật ngữ dùng để chỉ phẩm chất của một sự vật, hiện tượng. Chất lượng luôn được xem như một thuộc tính của một thực thể (chất lượng và đặc tính), một đặc tính đặc biệt và cần thiết của một sản phẩm hay một người (bản chất và công suất), mức độ xuất sắc (cấp/điểm), như là một địa vị xã hội (hạng bậc và tầng lớp).
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) đưa ra khái niệm về chất lượng trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000: “Chất lượng là mức độ mà một 10 tập hợp các tính chất đặc trưng của thực tế có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hay tiềm ẩn”. Ở một số khía cạnh nghiên cứu khác lại cho rằng, chất lượng là những yếu tố, tính chất của sự vật, hiện tượng làm thỏa mãn nhu cầu của người thụ hưởng hoặc khách hàng. Điều này có nghĩa chất lượng còn phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của người thủ hưởng, người mua và sử dụng hàng hóa, sản phẩm đó. Trên cơ sở một số khái niệm trên, có thể khái niệm thuật ngữ chất lượng như sau: Chất lượng là tổng hòa các tính chất, phẩm chất của sự vật, hiện tượng chủ yếu là hàng hóa, dịch vụ làm cơ sở để đánh giá khả năng sản xuất hoặc hiệu quả cung ứng của hàng hóa, dịch vụ đó thông qua sự hài lòng của các bên liên quan [14, tr.
Khái niệm công chức Thuật ngữ “công chức” thường được hiểu một cách khái quát là những người được nhà nước tuyển dụng, nhận một công vụ hoặc một nhiệm vụ nhất định, do nhà nước trả lương và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ nhà nước theo các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, phạm vi rộng hẹp khi xác định đối tượng là công chức hoặc là viên chức lại không giống nhau đối với các quốc gia khác nhau. Trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam, có một điểm đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn có sự liên thông với nhau. Theo yêu cầu nhiệm vụ, cơ quan có thẩm quyền có thể điều động, luân chuyển họ giữa các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành đã có những quy phạm quy định rõ nhằm phân định hai chủ thể này. Cụ thể: - Thuật ngữ “công chức” hiện nay được quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[24, Khoản 1 Điều 1]. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ 11 chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của Việt Nam so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Quan niệm về chất lượng công chức Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật.
Hiệp Hội về chất lượng của Hoa Kỳ (ASQ) đã định nghĩa chất lượng là "tổng hợp những đặc tính và đặc điểm của một sản phẩm hay dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng". Theo tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam (TCVN-ISO 8402) định nghĩa: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn. Và theo TCVN 9000:2000 định nghĩa: Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. Ở quan niệm chung, “chất lượng” là cái tạo nên tổng hợp giá trị, phẩm chất của một người/ tổ chức, một sự vật/ sự việc.
Những giá trị, phẩm chất đó đáp ứng đến đâu so với yêu cầu đã được xác định trong một thời gian và không gian xác định về một con người/ tổ chức, một sự vật/ sự việc đó. Vì thế, đề cập đến chất lượng của một con người là xem xét đến mức độ họ đạt được (các mức độ ngang tầm - dưới tầm - vượt tầm, cao - thấp, đạt - không đạt) so với yêu cầu đặt ra trong một thời gian và không gian được xác định cụ thể. Khi phân tích, đánh giá chất lượng của một con người đòi hỏi phải phân tích, đánh giá chất lượng của từng yếu tố, từng bộ phận cấu thành nên hoạt động của họ trong mối thống nhất, biện chứng và ràng buộc - tác động lẫn nhau giữa chúng. Do đó, Đại hội VI của Đảng đã xác 12 định: “Chất lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ”[13].