Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái quát về chất lượng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện 1. Khái niệm công chức Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức 2008 (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019) quy định như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [12, 13, tr. Khái niệm chất lượng Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật.
Chất lượng biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật. Quan niệm cơ bản về chất lượng là cái hình thành nên phẩm chất, giá trị của con người, một sự vật, sự việc. Nói đến chất lượng là nói tới hai vấn đề cơ bản: Một là, tổng hợp các phẩm chất, giá trị, các đặc tính tạo nên cái bản chất của con người, một sự vật, sự việc nào đó; Hai là, các phẩm chất, những đặc tính và giá trị đó đáp ứng đến đâu những yêu cầu đã được xác định về con người, sự việc, sự vật đó trong một thời gian và không gian nhất định. Tuy nhiên, vấn đề này có tính ổn định tương đối, thay đổi do ảnh hưởng của những điều kiện chủ quan, khách quan.
Theo Từ điển Tiếng việt: 14 Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật và phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính. Chất lượng của sự vật, hiện tượng biểu thị trình độ phát triển của nó, chất lượng càng cao thì mức độ phát triển của sự vật càng lớn [15, tr. Theo Từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, mỗi sự vật, sự việc”.
Đây là cách đánh giá một con người, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, trong tính độc lập của nó. Như vậy, có thể hiểu chất lượng là tổng hợp những phẩm chất, giá trị, những đặc tính của một con người, một sự vật, sự việc đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện thời gian, không gian xác định. Chất lượng công chức và chất lượng đội ngũ công chức 1. Chất lượng công chức Trên cơ sở khái niệm chất lượng nêu trên chúng ta cũng có thể hiểu chất lượng công chức là tổng hợp những đặc tính, phẩm chất, giá trị của một công chức đáp ứng được yêu cầu về công tác quản lý nhà nước trong các cơ quan, đơn vị.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 ban hành Nghị quyết xác định Chất lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Nói đến chất lượng công chức là nói đến việc tập hợp các yếu tố phản ánh chất lượng cá nhân qua nhóm thể lực - trí lực - tâm lực với các yếu tố khác nhau như cơ bản: - Thể lực thể hiện ở các chỉ tiêu liên quan đến sức khỏe ở trên phương diện y tế như: chỉ số đường huyết, chỉ số huyết áp; nồng độ cholesterol trong máu, nồng độ triglycerid, chỉ số hormone do tuyến yên tiết ra, chỉ số khối cơ thể - BMI, chỉ số protein phản ứng C có trong máu. - Trí lực biểu hiện qua trình độ, năng lực và kỹ năng công tác. Trình độ bao gồm các khía cạnh như: chuyên môn, nghiệp vụ (trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ); lý luận chính trị (trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao cấp hoặc cử nhân); quản lý nhà nước (theo các chương trình chuyên viên cao cấp, chuyên 15 viên chính, chuyên viên, quản lý cấp phòng, cấp sở và tương đương); tin học (trung cấp trở lên, chứng chỉ A, B, Cơ bản); ngoại ngữ (trung cấp trở lên, khung năng lực 6 bậc châu âu).
Năng lực gồm có năng lực tư duy và năng lực thừa hành, thực thi. Năng lực tư duy chia thành các cấp độ khác nhau như biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản biện, sáng tạo; năng lực thực thi, thừa hành theo yêu cầu, tiêu chuẩn của các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp. Kỹ năng công tác gồm việc giao tiếp, nội dung quản lý về thời gian, phân tích những công việc, công tác lập kế hoạch, làm việc nhóm, điều hành hội họp… Ngoài ra, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý còn cần phải có năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành; tập hợp, đoàn kết đội ngũ công chức. - Tâm lực biểu hiện chủ yếu qua thái độ, trách nhiệm trong công tác.
Nếu thái độ và trách nhiệm đều có điểm chung là trạng thái tâm lý công chức có thể tích cực hoặc không tích cực, nhưng dù ở trạng thái nào thì cũng phải thể hiện ra bên ngoài bằng các hành vi, hành động cụ thể như phát ngôn, hành động, … Không chỉ tương đồng trên các phương diện nêu trên, giữa thái độ và trách nhiệm còn có các yếu tố tác động chung qua lại với nhau, theo đó tạo nên trạng thái tích cực hay không tích cực trong phát ngôn, hành động của công chức. Các yếu tố này chia thành hai nhóm là tiền lương, tiền thưởng, trang thiết bị làm việc… và tinh thần như khen thưởng, sự quan tâm, động viên đúng lúc của đồng nghiệp, thủ trưởng…. Nếu như thái độ công chức thiên về trạng thái tâm lý của chủ thể thì trách nhiệm thể hiện tính pháp lý. Công chức có thể có thái độ không hài lòng nhưng vẫn phải thực hiện nhiệm vụ được giao và nếu thực hiện sai, trái, không đạt kết quả sẽ phải chịu trách nhiệm của bản thân mình.
Đây là điểm khác biệt giữa thái độ với trách nhiệm, cho thấy trong thực tế quản lý, sử dụng công chức việc tăng cường áp dụng các biện pháp để nâng cao trách nhiệm cần đi đôi với tuyên truyền, giáo dục, động viên để nâng cao thái độ, tính tích cực nghề nghiệp chuyên môn của công chức. Nếu như trách nhiệm thể hiện tính pháp lý, chịu sự chi phối nhiều về pháp lý thì thái độ chịu sự chi phối, ảnh hưởng của tâm lý, khí chất của con người. Đây là điểm cần quan tâm khi đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức. Chất lượng đội ngũ công chức Chất lượng đội ngũ công chức được thể hiện qua các nội dung phương diện sau: - Số lượng công chức, bao gồm số lượng công chức trong cơ quan, tổ chức và số lượng chung của cả đội ngũ công chức công tác trong bộ máy hành chính nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương.
- Cơ cấu được xác định cụ thể qua các tiêu chí về tuổi, giới tính, vị trí công tác, trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, … - Chất lượng thể hiện một phần qua cơ cấu, qua chất lượng của mỗi công chức và chất lượng tập thể đội ngũ công chức ở trong cơ quan, tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hiện tại. Chính vì vậy, nội dung việc đánh giá về chất lượng đội ngũ công chức cần xem xét trên cả ba phương diện: số lượng, cơ cấu và chất lượng công chức. Các cơ quan chuyên môn cấp huyện Căn cứ Điều 9, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định như sau: “1. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên.
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên. Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn.12, 13] Như vậy, khái nhiệm cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được hiểu: 17 Cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên. Sắp xếp, bố trí, thành lập các cơ quan chuyên môn phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; đảm bảo tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về từng ngành, lĩnh vực từ Trung ương đến địa phương.
Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Vị trí, vai trò và đặc điểm của đội ngũ công chức cấp huyện 1.