CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Cán bộ Tại Lào theo Luật cán bộ công chức có quy định “Cán bộ là công dân Lào, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố, ở huyện, quận, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [29]. Đối với từng nhiệm kỳ, tiêu chí đánh giá, phân loại cán bộ, công chức sẽ đi liền với phương thức, quy chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm các chức vụ khi áp dụng quy định này.
Do đó, những đối tượng thỏa mãn được các tiêu chí đánh giá chung của cán bộ, công chức và được các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tuyển chọn vào làm việc bằng phương thức bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo từng nhiệm kỳ sẽ được công nhận là cán bộ. Thực tế đã chứng minh rằng các chức vụ, chức danh của từng nhiệm kỳ sẽ luôn gắn liền với cán bộ; quyền lực chính trị do quần chúng nhân dân hoặc các thành viên giao cho sẽ đi liền với hoạt động của họ và có nhiệm vụ phụ trách trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân. Việc tổ chức quản lý, giám sát cán bộ phải tiến hành theo các Điều lệ hoặc các văn bản quy phạm pháp luật cùng với chuyên ngành điều chỉnh tương ứng. Vì vậy, các cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội sẽ được xác định cụ thể, rõ ràng theo Điều lệ của Đảng bởi các cơ quan có thẩm quyền của Đảng dựa trên các tiêu chí được quy định trong Luật công chức Lào năm 2015.
Những cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước sẽ được xác định căn cứ vào các nguyên tắc của Luật công chức Lào và được quy định rõ ràng, cụ thể bởi Ủy ban thường vụ Quốc hội. 10 Tại Việt Nam, theo Luật cán bộ, công chức sửa đổi năm 2019 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [6]. Có thể thấy, do được hình thành theo cách nhìn nhận riêng đối với từng loại cán bộ theo phương pháp liệt kê, theo tiêu chí hoặc theo các quan niệm khác nhau nên cho đến nay, khái niệm về cán bộ có nhiều cách đánh giá khác nhau. Vì vậy, có thể hiểu: “Cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức (CCVC) làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác.
Họ được được tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử. Hoạt động quản lý nhà nước xét đến cùng được thực hiện thông qua hành vi của các cá nhân cụ thể, được Nhà nước trao cho việc thực hiện quyền lực nhà nước. Từ đó mà hình thành phạm trù cán bộ, công chức, một chủ thể đặc biệt và quan trọng của luật hành chính. Cán bộ, công chức là một đối tượng lao động đặc biệt, họ thiết lập quan hệ lao động với Nhà nước và thực hiện công vụ, nhiệm vụ do nhà nước giao.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, pháp luật đã sử dụng các khái niệm khác nhau để chỉ đối tượng lao động này”. Cán bộ công đoàn Theo Liên hiệp công đoàn Lào: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, tri thức và những người lao động lập ra. Công đoàn có tính chất quần chúng và tính chất giai cấp công nhân, có chức năng đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức và người lao động, tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, 11 giáo dục, động viên công nhân, viên chức, người lao động phát huy quyền làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công nhân, xây dựng và bảo vệ đất nước”. Công đoàn Lào là thành viên của Mặt trận tổ quốc do Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo, có quan hệ hợp tác với các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác: Hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.
Theo Luật công đoàn Lào quy định: “Cán bộ công đoàn Lào là những cán bộ, công chức làm việc trong các phòng/ban/đơn vị thuộc Liên hiệp công đoàn của các địa phương/các tỉnh hoặc văn phòng Liên đoàn lao động trực thuộc”. [30] * Hiện nay theo Liên hiệp công đoàn của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và nguồn gốc tiền lương cán bộ công đoàn có 2 loại: Cán bộ công đoàn chuyên trách:là những người dành toàn bộ thời gian và năng lực bản thân cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn, hưởng lương từ ngân sách công đoàn, do tổ chức công đoàn phân công công việc, đề bạt, bổ nhiệm hoặc công nhận chức danh bầu cử. Hiện nay CBCĐ chuyên trách của Lào chủ yếu nằm ở cơ quan công đoàn cấp trên cơ sở và một số công đoàn cơ sở (CĐCS) có đông đoàn viên và công nhân lao động (CNLĐ). CBCĐ chuyên trách có thể chia thành 4 nhóm cơ bản như sau: + Nhóm thứ nhất: là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp công đoàn như chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên Đoàn chủ tịch hoặc Ban thường vụ, trưởng, phó ban chuyên đề thuộc cơ quan công đoàn các cấp (từ Trung ương đến công đoàn cấp trên cơ sở).
12 + Nhóm thứ hai: là cán bộ được bổ nhiệm vào ngạch công chức, viên chức làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ hoặc phục vụ ở cơ quan công đoàn các cấp. + Nhóm thứ ba: cán bộ giảng dạy ở các trường công đoàn, cán bộ nghiên cứu khoa học ở các viện trong hệ thống Công đoàn. + Nhóm thứ tư: là cán bộ quản lý đơn vị sự nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc Công đoàn các cấp. Cán bộ công đoàn không chuyên trách: Là những người làm việc kiêm nhiệm, chỉ dành một phần quỹ thời gian cho hoạt động CĐ, không hưởng lương từ ngân sách công đoàn, do đoàn viên tín nhiệm bầu vào ban chấp hành công đoàn các cấp, từ trung ương đến cơ sở.
Ngoài ra, thực tế ở một số công đoàn ngành còn có đối tượng cán bộ chuyên làm việc của công đoàn nhưng do chuyên môn trả lương và quản lý về tổ chức. + Căn cứ vào tính chất công việc, chức trách, nhiệm vụ của cán bộ công đoàn, có thể phân thành 2 loại như sau: - Cán bộ công đoàn bầu cử: là các uỷ viên ban chấp hành, uỷ viên uỷ ban kiểm tra, tổ trưởng, tổ phó tổ công đoàn. do đại hội Công đoàn (CĐ) các cấp bầu ra. Cán bộ bầu cử có thể là chuyên trách CĐ hoặc không chuyên trách CĐ.
- Cán bộ công đoàn chuyên môn, nghiệp vụ: là những cán bộ CĐ được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc phân công làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan công đoàn các cấp, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan công đoàn các cấp. [30] Luận văn tập trung nghiên cứu đối tượng cán bộ công đoàn từ uỷ viên ban chấp hành trở lên và căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ, nguồn gốc tiền lương của cán bộ công đoàn. Chất lượng cán bộ công đoàn Chất lượng Cán Bộ Công Đoàn (CBCĐ) là chất lượng tổng thể của CBCĐ tại một cơ quan hoặc đơn vị, trong đó chất lượng lao động, tinh thần làm việc và thái độ phục vụ người lao động được xem là yếu tố quan trọng 13 nhất. Chất lượng CBCĐ cũng phản ánh mối quan hệ phối hợp và hợp tác giữa các thành viên CBCĐ, thể hiện bản chất nội tại của tổ chức này thông qua trình độ chuyên môn, hiểu biết về chính trị-xã hội, phẩm chất đạo đức và khả năng thích nghi với sự chuyển đổi theo mục tiêu và vai trò quản lý của Nhà nước.
Chất lượng CBCĐ còn được phản ánh thông qua hệ thống các tiêu chuẩn và chỉ tiêu đánh giá, nhằm ghi nhận năng lực, trình độ chuyên môn – nghiệp vụ, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong quá trình công tác của CBCĐ. Ngoài ra, cũng cần xem xét tình trạng sức khỏe và tinh thần phục vụ người lao động. [14] Có thể kết luận rằng, chất lượng CBCĐ là tập hợp các yếu tố về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng sức khỏe của từng thành viên trong CBCĐ với mục đích hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị giao. Chất lượng CBCĐ chi phối sự tồn tại và phát triển của bộ máy tổ chức CĐ.
Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn không chỉ là mục tiêu vô cùng quan trọng mà còn là nguồn động lực dồi dào thúc đẩy nền kinh tế - xã hôi phát triển bền vững. Do đó, khi đánh giá chất lượng cán bộ công đoàn, cần xem xét từng cá nhân và cơ cấu tổ chức theo yêu cầu chức năng và nhiệm vụ của từng cấp công đoàn. Nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn Nâng cao chất lượng CBCĐ được coi là bước đi đầu tiên, quan trọng nhất trong công tác CBCĐ, đóng vai trò quyết định trong công tác tuyển chọn, đào tạo và bố trí sử dụng hiệu quả nguồn cán bộ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong công tác CBCĐ, việc đánh giá cán bộ dựa trên cảm tính, sự thiên vị và tránh né, dẫn đến sai sót trong bố trí công việc vẫn luôn tồn tại và chưa được giải quyết triệt để.
Nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn là việc cải thiện và nâng cao các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn – nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ chính trị và đạo đức của các người cán bộ. Chất lượng 14 của cán bộ công đoàn cũng bao gồm tình trạng sức khỏe để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ được giao trong tình hình mới.