Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Công đoàn Công đoàn là các tổ chức lớn có tính chất chính trị - xã hội, bao gồm cả người lao động và gia đình họ, là một bộ phận của hệ thống chính trị đất nước nói chung, dưới sự lãnh đạo của đất nước. Sự lãnh đạo của Đảng ở Việt Nam là dành cho những người làm việc cho nhà nước, cũng như những người lao động khác (sau đây gọi chung là công nhân), cùng với các tổ chức kinh tế, xã hội và nhà nước.
Hãy quan tâm và bảo vệ các quyền hợp pháp, chính đáng. Ưu điểm của các tổ chức này còn có được là nhờ công tác tuyên truyền và những lợi ích gắn liền với chúng. [23] Như vậy theo khái niệm trên, công đoàn có những đặc trưng sau: Đây là một tổ chức chính trị dành riêng cho tầng lớp thấp hơn và người lao động.; Căn cứ vào mức độ người lao động và người lao động sẵn sàng tham gia; Là một bộ phận của cơ sở hạ tầng chính trị ở Việt Nam, Được sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; - Ba trách nhiệm cơ bản đó là: (1) Chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, (2) Tham gia theo dõi, thanh tra, giám sát của các cơ quan, tổ chức nhà nước. cán bộ, tập đoàn và (3) Lan tỏa quá trình học tập nhằm nâng cao trình độ, năng lực của người lao động và giữ vững di sản xã hội chủ nghĩa của đất nước.
Sự khác biệt cơ bản giữa công đoàn và các tổ chức khác có liên quan đến chính trị và xã hội là các tổ chức này ủng hộ và thúc đẩy lợi ích của người lao động bằng cách bảo vệ quyền của họ thông qua các biện pháp pháp lý. Không tổ chức nào có thể ép buộc hoặc ngăn cản người lao động gia nhập công đoàn. Ngoài ra, công đoàn được coi là một tổ chức tự trị có ba đặc tính 11 cơ bản. Ở tầng này, vai trò lớn nhất là chăm sóc và bảo vệ quyền lợi của người lao động, hai chức năng còn lại là đại diện cho việc bảo vệ và chăm sóc quyền lợi của người lao động.
của những người bán chuyên nghiệp. Nhiệm vụ của Công đoàn là điều tiết, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước nhằm xác định xem mỗi tổ chức, đơn vị, người lao động có tuân thủ các chính sách, quy định, quyền và trách nhiệm do Công đoàn đề ra hay không. Tần suất của sự kiện này phụ thuộc vào trách nhiệm và nghĩa vụ của nhân viên. Ngoài ra, công đoàn còn có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.
Ngoài ra, công đoàn phải thúc đẩy và tạo điều kiện cho việc nghiên cứu các biện pháp nâng cao kiến thức, năng lực, sự tận tâm với pháp luật của người lao động cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ của họ trong tổ chức. hoặc nhóm mà họ là thành viên. Điều này sẽ cung cấp cho các công đoàn một nền tảng để ủng hộ mối quan tâm của họ. Đây là sự khác biệt giữa công đoàn và các tổ chức khác nhằm tìm kiếm lợi ích chính trị.
Công đoàn cơ sở “Công đoàn cơ sở (CĐCS) là tổ chức cơ sở của Công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam” [23]. Như vây, CĐCS trước hết phải là là tổ chức cơ sở của công đoàn, được thành lập trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, Tổ chức chính trị xã hội là một nghề nghiệp, và cũng là một tổ chức xã hội có những chức năng quan trọng. Các ngành nghề, Các tổ chức, công ty, cá nhân khác sử dụng lao động theo quy định của pháp luật lao động. Ngoài ra, các tổ chức, cơ quan quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam cũng tuân theo các quy định tương tự.
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng phát triển, định nghĩa về Đảng Cộng sản cũng có những thay đổi phù hợp với thông lệ và quy định quốc tế. Tuy nhiên, bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam không hề thay đổi, vẫn là tổ chức chuyên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, đây là tổ chức 12 đại diện cho đông đảo người lao động. Tên gọi có thể phát triển sau này nhưng bản chất của tổ chức vẫn giữ nguyên như khi mới thành lập, với mục đích và sứ mệnh là người đại diện chính thức cho người lao động để bảo vệ họ. Nếu bản chất này bị phá hủy thì công đoàn sẽ không còn được coi là tổ chức thương mại nữa.
Tùy theo phạm vi hoạt động và đặc thù của doanh nghiệp, đơn vị lao động và số lượng đoàn viên công đoàn cơ sở có thể thành lập công đoàn cơ sở, công đoàn cấp sở, cụm công đoàn. Việc thành lập công đoàn thành viên, công đoàn cơ sở do Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quy định; Ngoài ra, phân công trách nhiệm, quyền hạn và nội dung cụ thể cho công đoàn thành viên, công đoàn cơ sở, công đoàn cụm để thuận tiện cho việc tổ chức và thực hiện. Về số lượng, công đoàn cơ sở có thể được thành lập ở các đơn vị, tổ chức có từ 5 lao động trở lên. Trong trường hợp này, đơn vị quản lý lao động (SDLD) rõ ràng: 1) Các công ty trong cùng hệ thống kinh tế (bao gồm tất cả các công ty con của tổng công ty hoặc chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của tổng công ty có chi nhánh ở địa bàn khác).
2) HTX có SDLĐ theo qui định của pháp luật về lao động. 3) Đơn vị sự nghiệp công lập, phi nhà nước hạch toán độc lập. 4) Cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội và chính thức. 5) Các tổ chức có vốn nước ngoài, tổ chức ngoại giao, tổ chức đặt tại Việt Nam có nhân viên là người Việt Nam.
6) Các tổ chức, cơ quan có công đoàn phải tuân theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp đơn vị SDLĐ không có điều kiện tổ chức CĐCS, hoặc theo nhu cầu chính đáng của NLĐ, thì hình thành CĐCS phối hợp với nhiều đơn vị trực thuộc. 13 Như vậy, CĐCS có thể thành lập từ nhiều hình thức tổ chức, gồm tổ chức công và tổ chức tư. Nhiệm vụ và quyền hạn của CĐCS gồm: - Tổ chức, giáo dục công nhân, viên chức lao động chấp hành: Những chính sách, pháp luật chung của Công đoàn; Chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghĩa vụ của đoàn viên chấp hành những điều lệ, quy chế của Tổng Liên đoàn.
- Tôn trọng, bảo vệ và phát huy quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, người lao động theo quy định của pháp luật nhà nước. - Quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, người lao động trong việc tham gia hoặc chấp hành chính sách, pháp luật, nội quy, quy chế, thỏa ước tập thể và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật. - Việc thực hiện chính sách, pháp luật, nội quy, quy chế và bảo vệ những vấn đề hợp pháp và chính đáng khác của đoàn viên và người lao động được tham gia hoặc giám sát theo quy định của pháp luật - Các quyết định của công đoàn các cấp đều được tổ chức và thực hiện theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam; Chương trình đào tạo, phát triển cho đoàn viên công đoàn; Việc quản lý và sử dụng tài chính và nguồn lực được thực hiện thông qua các quy trình đã được thiết lập; Ngoài ra, công đoàn còn tham gia xây dựng các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp bền vững, có mục tiêu phát triển. Nền móng, hoạt động, sức mạnh của công đoàn nằm ở cơ sở, từ cơ sở.
Bản chất của công đoàn do chính người lao động thành lập phải được hiểu rõ, và việc tồn tại của công đoàn do người lao động quyết định. Từ điều này, các cán bộ công đoàn nắm vững trách nhiệm cá nhân của mình để NLĐ có niềm tin và tham gia vào tổ chức công đoàn. Cán bộ công đoàn cơ sở - CBCĐ chuyên trách: Đây là những người tham gia vào hoạt động của công đoàn một cách thường xuyên, được bầu ra tại các cuộc họp của hội nghị và được cấp cao nhất trong ngành công nhận và giao phó nhiệm vụ liên quan. 14 - CBCĐ không chuyên trách: là những cá nhân kết hợp hoạt động công việc với việc giữ vị trí lãnh đạo trong tổ chức công đoàn cao cấp.
Họ được bầu chọn dựa trên lòng tin của các thành viên và được công nhận hoặc chỉ định bởi cấp quản lý có thẩm quyền của tổ chức công đoàn. Theo hiểu biết và quy định hiện tại, CB CĐCS bao gồm: - Tổ trưởng, tổ phó công đoàn; - Ủy viên BCH công đoàn ở mọi cấp; - Ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn ở mọi cấp; - Ủy viên các ban quần chúng công đoàn ở mọi cấp”; - Và những cán bộ, CBCĐ tham gia vào công tác nghiệp vụ của TCCĐ ở mọi cấp. Với tư cách là người được bầu hoặc được công đoàn cấp trên chỉ định, CBCĐCS có các nhiệm vụ sau: - Giao tiếp nội bộ với các thành viên công đoàn và người lao động, lắng nghe ý kiến phản hồi của thành viên và người lao động, được thực hiện. - Văn bản, hướng dẫn và tổ chức thực hiện tiếp xúc hai bên giữa công đoàn và từng thành viên hoặc giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc tổ chức công đoàn đã được triển khai.
- Đã tạo cơ hội tăng cường trao đổi ý kiến giữa người lao động và người sử dụng lao động giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa công đoàn với đơn vị sử dụng lao động. - Công việc xây dựng công đoàn đối với những thành viên thuộc hiệp hội kinh doanh và công đoàn địa phương đã được thực hiện. - Những vi phạm chủ trương, chính sách của Đảng đã được ghi nhận, điều lệ, pháp luật của Nhà nước và những quy định của công đoàn cùng cấp. - Và đã thực hiện những việc cụ thể được công đảng giao phó.