CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN, CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 1. Những vấn đề chung về cán bộ công đoàn cơ sở 1. Quan điểm về công đoàn và chức năng, nhiệm vụ của cán bộ CĐCS 1. Lịch sử hình thành tổ chức công đoàn Sau khi thôn tính được Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa, tập trung đầu tư vào một số ngành chủ yếu như đường sắt, hầm mỏ, xí nghiệp, đồn điền.
Từ đó hình thành Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam. Khác với giai cấp công nhân các nước tư bản, GCCN Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị thực dân Pháp bóc lột và bần cùng hóa. Thắng lợi Cách mạng tháng Mười Nga, sự phát triển của phong trào công nhân thế giới đầu thế kỷ XX đã ảnh hưởng đến phong trào công nhân Việt Nam, nhất là từ khi xuất hiện Quốc tế Cộng sản do Lê Nin sáng lập (năm 1919) và Quốc tế Công hội Đỏ (năm 1921). Từ đó GCCN Việt Nam nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê Nin và kinh nghiệm đấu tranh của công nhân các nước [2].
Trước sự bóc lột thậm tệ và đàn áp dã man của thực dân đế quốc, công nhân lao động nước ta đã tự nguyện thành lập các nghiệp đoàn, công hội đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình ở nhiều nơi trong cả nước. “Tiêu biểu nhất là Công hội Ba Son do người công nhân ưu tú Tôn Đức Thắng sáng lập (1920). Đến năm 1925, Công hội đã trở thành linh hồn của phong trào bãi công của công nhân Ba Son, Sài Gòn - Chợ Lớn. Tuy Công hội Ba Son phải chấm dứt hoạt động năm 1926 do sự đàn áp của thực dân Pháp nhưng đã tạo cơ sở xã hội cho việc thành lập Công đoàn Cách mạng về sau”[2].
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đặt cơ sở lý luận và tư tưởng cho Công đoàn cách mạng Việt Nam. Quá trình hình thành và ra đời của tổ chức Công đoàn gắn liền với tên tuổi và cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những năm tháng hoạt động trong phong trào công nhân và Công đoàn Quốc tế, Người đã nghiên cứu hình thành tổ chức công đoàn ở các nước tư bản, thuộc địa và nửa thuộc địa. Từ đó rút ra kinh 5 nghiệm hoạt động công đoàn nói chung và hình thức tổ chức cho Công đoàn Việt Nam nói riêng.
Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”[3], Người viết: “Tổ chức Công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có tình cảm, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”[3]. Có thể nói, trên bước đường đi tới chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm rất sớm đến tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân. Quá trình Người chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự thành lập một chính Đảng vô sản cũng là quá trình Người xây dựng cơ sở lý luận và biện pháp tổ chức công đoàn cách mạng. Năm 1925 đến 1928 nhiều Công hội bí mật đã hình thành do sự hoạt động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Đặc biệt từ năm 1928, khi kỳ bộ Bắc kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát động phong trào Vô sản hóa thì phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam ngày càng sôi nổi, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức Công hội lên một bước mới cả về hình thức lẫn nội dung hoạt động[2]. Năm 1929 là thời điểm phong trào công nhân và hoạt động công hội ở nước ta phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở miền Bắc các cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra liên tục ở nhiều xí nghiệp, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất hành động giữa các cuộc đấu tranh ở xí nghiệp này với xí nghiệp khác trong cùng một địa phương, giữa địa phương này với địa phương khác. Sự phát triển của phong trào công nhân và tổ chức Công đoàn đòi hỏi phải có một tổ chức Mác xít, một Đảng thực sự cách mạng của giai cấp công nhân có khả năng tập hợp, lãnh đạo công nhân đấu tranh giành độc lập, tự do. Tháng 3 năm 1929 chi bộ cộng sản đầu tiên ra đời.
Đông Dương Cộng sản Đảng đã liên kết các Công hội Đỏ ở các cơ sở và giao cho đồng chí Nguyễn Đức Cảnh - ủy viên Ban chấp hành lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc kỳ. Đại hội thành lập Tổng Công hội miền Bắc Việt Nam diễn ra ngày 28/7/1929, sau Đại hội Tổng Công hội Đỏ tiếp tục tuyên truyền, vận động, phát triển tổ chức vào các tỉnh miền Trung và miền Nam. Lần đầu tiên giai cấp công nhân Việt Nam có một đoàn thể cách mạng 6 rộng lớn, hoạt động có tôn chỉ, mục đích, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo công nhân lao động[2]. Quan điểm về cán bộ công đoàn cơ sở Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ công đoàn Cán bộ công đoàn là người đem chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước tuyên truyền cho nhân dân, cán bộ, đoàn viên, hội viên hiểu rõ và thi hành, đồng thời tập hợp những vướng mắc của đông đảo nhân dân, đoàn viên, hội viên phản ánh lại cho Đảng và Nhà nước để Đảng và Nhà nước định ra chính sách cho đúng.
Cán bộ đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện đường lối và nhiệm vụ chính trị[15]. Là người sớm tham gia phong trào công nhân, dày công nghiên cứu phong trào công đoàn, Bác Hồ đã cụ thể hóa phương pháp hoạt động công đoàn bằng phương châm dễ nhớ, dễ làm “Cán bộ công đoàn phải cùng ăn, ở, làm việc và bàn bạc với công nhân”[5]. Đó là phong cách cần có của cán bộ công đoàn mà Bác đã rút ra từ thực tiễn đào tạo, rèn luyện cán bộ cách mạng, cán bộ làm công tác vận động quần chúng. Bởi theo Bác “Cán bộ công đoàn phải nắm vững chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, lãnh đạo phải dân chủ, phải cùng công nhân đồng cam cộng khổ, phải hòa mình với công nhân thành một khối, phải gương mẫu.
Cán bộ công đoàn phải hiểu biết sản xuất, đời sống, nguyện vọng của công nhân, lao động, phải hiểu biết chính sách của Đảng, phải hiểu quản lý kinh tế, khoa học kỹ thuật"[2]. Mọi việc công đoàn làm phải vì lợi ích của người lao động, mục đích của công đoàn là phải cải thiện dần đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân lao động nói chung. Lời chỉ dẫn ân cần của Bác với cán bộ công đoàn cần: Phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Chính vì vậy, Bác quan niệm cán bộ công đoàn “Phải giỏi cả về chính trị, thành thạo về kinh tế”[3] thì mới lãnh đạo được đội ngũ công nhân ngày càng phát triển lại có trình độ cả về tư tưởng văn hóa, kỹ thuật.
“Cán bộ công đoàn phải tham gia lao động gần gũi công nhân, viên chức”[3] phải biết dựa vào quần chúng, phát huy sức sáng tạo của quần chúng, học tập kinh nghiệm của quần chúng… thì mới làm tròn được nhiệm vụ của mình. Cán bộ công đoàn là trung tâm của đoàn kết, phải có trách nhiệm cao, vì lợi ích giai cấp, vì lợi ích cách mạng “Muốn giáo dục tốt công nhân, trước hết đội ngũ 7 cán bộ công đoàn phải đoàn kết nhất trí., phải kiên quyết xây dựng cho được sự đoàn kết nhất trí trong hệ thống Công đoàn…”[3]. Cán bộ công đoàn cần phải tích cực không ngừng để nâng cao trình độ về mọi mặt. Người nói: “Kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, hàng ngũ công nhân ngày càng đông.
Muốn làm tròn nhiệm vụ của mình thì cán bộ công đoàn phải cố gắng học tập vươn lên để không ngừng tiến bộ. Có học tập mới hiểu được khoa học, có hiểu được khoa học mới tổ chức được phong trào”[5]. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh được thể chế trong “Hiến pháp nước công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 10 quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[13]. Đó là những cơ sở pháp lý để tổ chức công đoàn các cấp và cán bộ công đoàn tổ chức thực hiện và tuân thủ theo quy định của Hiến pháp.
Nhà nước đã ban hành các chính sách, luật pháp liên quan đến GCCN, tổ chức Công đoàn và cán bộ công đoàn. Bộ Luật Lao động 2012 , quy định tại chương XIII về công đoàn[11]: Điều 191 của Bộ luật lao động năm 2012 quy định quyền của cán bộ công đoàn cơ sở trong quan hệ lao động Gặp người sử dụng lao động để đối thoại, trao đổi, thương lượng về những vấn đề lao động và sử dụng lao động. Đến các nơi làm việc để gặp gỡ người lao động trong phạm vi trách nhiệm mà mình đại diện. Những nơi chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, cán bộ công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở được thực hiện các quyền hạn quy định tại Điều này.