CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP QUẬN TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Những vấn đề chung về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Khái niệm cán bộ Thuật ngữ “cán bộ” bắt đầu xuất hiện kể từ khi chủ tịch Hồ Chí Minh vận “ dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào cách mạng của Việt Nam. Người sử ” dụng từ “cán bộ” lần đầu tiên trong bài báo có tựa đề “Nhật Bản” đăng trên tờ La Vie Ouvrière ngày 09-11-1923, trong đó có đoạn: “cần đào tạo cán bộ cho những hoạt động tích cực” (Nguyễn Thành và cộng sự, 2000).
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người cũng đã bàn nhiều về cán bộ: “cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” (Đức Vượng và cộng sự, 2000). Trong Đại từ điển tiếng Việt, “cán bộ” được định nghĩa là: “1. Người làm việc trong cơ quan nhà nước: cán bộ nhà nước; 2.
Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ, trong cơ quan, tổ chức nhà nước” (Nguyễn Như Ý, 2010). Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định rõ tại khoản 1 điều 4 về cán bộ : “ ” “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương và ở các cấp địa phương, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Khái niệm công chức Theo Đại từ điển tiếng Việt, “công chức” là: “Người làm việc hưởng lương từ ngân sách, trong cơ quan nhà nước: cán bộ công chức nhà nước làm việc theo lối công chức” (Nguyễn Như Ý, 2010). Ở Việt Nam, ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 20- 5-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công “ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 chức nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Trong đó, theo cách hiểu của giai đoạn ” này, công chức được xác định tại Điều 1 như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” (Trần Anh Tuấn, 2012). Bước vào thời kỳ đổi mới (năm 1986), để phục vụ cho việc xây dựng chế độ công chức trong thời kỳ đổi mới, ngày 25/5/1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức nhà nước. Tại Nghị định này, công chức nhà nước được định nghĩa như sau: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”. Tiếp sau đó, Pháp lệnh cán bộ, công chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X thông qua ngày 26/02/1998 đã xác định khái niệm “cán bộ, công chức” khá rộng: “cán bộ, công chức là công dân của Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Đến năm 2008, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật cán bộ, công chức và tiếp đó, năm 2010 Luật Viên chức được ban hành. Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, “ công chức năm 2008 đã quy định : ” “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Khái niệm đội ngũ cán bộ công chức Theo Đại từ điển tiếng Việt, đội ngũ được định nghĩa: “1. Tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng: đội ngũ chỉnh tề.
Tập hợp số đông người cùng chức năng, nghề nghiệp” (Nguyễn Như Ý, 2010). Đội ngũ cán bộ, công chức là những người có chức trách, vai trò nòng cốt “ trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị , có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ ” “ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành , góp phần định ” “ hướng sự phát triển và hoàn thành nhiệm vụ chính trị từ Trung ương đến địa phương. Đội ngũ cán bộ, công chức không phải là tổng số giản đơn các cán bộ, ” “ công chức, mà còn là sự bố trí , phân công và phối hợp hoạt động giữa các cán bộ, ” “ công chức trong việc thi hành chức trách, nhiệm vụ. Vị trí, vai trò và chức năng của đội ngũ cán bộ, công chức “ Cán bộ, công chức giữ vị trí đặc biệt quan trọng.
Cán bộ, công chức là một trong những nhân tố cơ bản hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách ” “ mạng, quyết định việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đội ” “ ngũ cán bộ, công chức có vị trí rất quan trọng trong thực hiện thành công các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó , là chủ thể hành động, là nhân tố quyết định, ” “ nhân tố mang tính đột phá cho mọi sự đột phá, là hạt nhân của khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng, trong nhân dân. ” Đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị; có vai trò then chốt xét cả trong quan hệ giữa Đảng với dân, giữa công dân với Nhà nước. Đội ngũ cán bộ, công chức là “cầu nối” giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân với Nhà nước.
Họ là những người trực tiếp tuyên “ truyền, phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ; quyết định năng lực lãnh đạo và sức ” “ chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; của nhà nước và các đoàn thể chính trị xã hội; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn; là tấm gương trong mọi hoạt động, công tác và sinh hoạt. ” Đội ngũ cán bộ, công chức có các chức năng sau: - Chức năng tham mưu: Tham mưu hoạch định chính sách cho nhà nước, xây dựng chương trình, kế hoạch theo từng lĩnh vực công tác được giao. - Chức năng tuyên truyền: Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. - Chức năng tổ chức thực hiện: Tổ chức hướng dẫn hoặc trực tiếp triển khai, “ thực hiện chế độ, chính sách, cơ chế trong từng lĩnh vực công tác được giao .” - Chức năng kiểm tra: Kiểm tra việc thực hiện, phát hiện các sai phạm để xử lý sai phạm hoặc ngăn chặn các vi phạm pháp luật.
- Chức năng thông tin liên hệ ngược: Nắm chắc và phản ảnh kịp thời những nảy sinh, những vấn đề bức xúc trong nhân dân để có chủ trương, biện pháp giải quyết kịp thời. Nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ công chức Theo luật Cán bộ, công chức 2008, cán bộ công chức phải: - Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; Tôn trọng nhân dân, tận tụy “ phục vụ nhân dân. ” - Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân “ dân.
” - Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và “ pháp luật của Nhà nước. ” Đồng thời, trong thi hành công vụ, cán bộ, công chức có nghĩa vụ : “ ” - Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, “ quyền hạn được giao. ” - Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ “ quan, tổ chức, đơn vị. ” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - Báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong “ cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
” - Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết “ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. ” - Bảo vệ, quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao. “ ” - Chấp hành quyết định của cấp trên, người ra quyết định phải chịu trách “ nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. ” - Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu đội ngũ cán bộ công chức Theo Đại từ điển tiếng Việt, cơ cấu là: “Cách tổ chức, sắp xếp các thành phần, bộ phận trong nội bộ nhằm thực hiện một chức năng chung: cơ cấu kinh tế, cơ cấu tổ chức cơ quan” (Nguyễn Như Ý, 2010). Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức là mức độ phù hợp, cách tổ chức, sắp xếp “ các thành phần trong đội ngũ cán bộ, công chức một cách cân đối, hài hòa, có sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa các loại, các thế hệ, giới tính cán bộ, công chức ; là ” “ yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, tạo nên sức mạnh tổng hợp cao nhất để thực hiện tốt nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong mọi điều kiện .