LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đầu năm 2020, dịch bệnh Covid-19 bùng phát tại trên toàn thế giới, khiến cho nền kinh tế toàn cầu, bao gồm cả nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hƣởng nghiêm trọng, hiệu quả kinh doanh của hầu hết các ngành nghề đều sụt giảm đáng kể. Và trong đó ngành ngân hàng cũng là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hƣởng rõ rệt nhất từ đại dịch, dẫn đến việc gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển, đặc biệt là những rủi ro trong việc KDTD của các Ngân hàng Thƣơng mại có thể kể đến nhƣ: rủi ro lạm phát do các tác động từ trong nƣớc và quốc tế; hệ luỵ của đại dịch Covid-19 (vòng quay vốn chậm, đình trệ dòng tiền, doanh nghiệp mất KNTT dẫn đến nợ xấu); rủi ro an toàn hệ thống ro việc mở rộng quy mô tín dụng; rủi ro kỳ hạn gia tăng do việc cung ứng vốn chủ yếu vẫn đến từ hệ thống ngân hàng; nhiều văn bản quy phạm trong khuôn khổ pháp lý cho hoạt động tiền tệ - ngân hàng chƣa có hành lang pháp lý rõ ràng, đủ thẩm quyền trong việc tái cơ cấu các tổ chức tín dụng;. Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, việc tập trung đƣa ra giải pháp thúc đẩy tăng trƣởng tín dụng để dẫn vốn vào các lĩnh vực trọng điểm là cực kỳ quan trọng, vì đây là đây là một trong các yếu tố quan trọng hỗ trợ phục hồi kinh tế.
Nhờ sự hỗ trợ từ những chính sách kích thích tăng trƣởng kinh tế và chiến dịch bình thƣờng hoá mới đối với đại dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam đang có sự phục hồi mạnh mẽ trong thời gian vừa qua. Đặc biệt, khác với mọi năm khi nhu cầu tín dụng đầu năm thƣờng không cao, doanh thu tín dụng của các ngân hàng đều tăng mạnh ngay từ những tháng đầu tiên của năm 2022, thậm chí có những ngân hàng đạt mức tăng trƣởng tín dụng 200 - 300% so với cùng kỳ năm trƣớc. Nhƣ vậy triển vọng lợi nhuận năm 2022 đƣợc nhận định là sẽ tiếp tục tăng trƣởng, tuy nhiên giữa các ngân hàng sẽ có sự phân hoá mạnh. Những ngân hàng có độ bao phủ nợ xấu và hệ số an toàn vốn cao, chuyển đổi và phát triển hệ sinh thái số sẽ có mức độ tăng trƣởng tín dụng vƣợt lên các ngân hàng còn lại.
Vì vậy, việc cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt hơn, đặc biệt là giữa các Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần. Tuy khó có thể cạnh tranh về LSTD với các Ngân hàng Quốc doanh nhƣng rất nhiều ngân hàng thƣơng mại hiện 1 nay đã thực hiện chuyển đổi số rất nhanh chóng cùng với các chính sách thu hút KH một cách hiệu quả. Trong số các Ngân hàng Thƣơng mại lớn dẫn đầu về vốn hoá và doanh thu, Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam (MBBank) bên cạnh Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam (Techcombank) là ngân hàng đang có tốc độ chuyển đổi số và tăng trƣởng nhanh chóng với tiềm năng đƣợc đánh giá rất cao, nhất là sau sự chuyển mình sau sự thay đổi ban lãnh đạo và bộ nhận diện thƣơng hiệu sau giai đoạn 2017. Đối với Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức, là một chi nhánh mới thành lập từ năm 2018, nằm ở khu vực tiếp giáp giữa quận Hoài Đức và quận Hà Đông, nơi có rất nhiều doanh nghiệp mới thành lập và cũng là khu vực đƣợc nhiều doanh nghiệp lớn lựa chọn làm vị trí để mở rộng kinh doanh.
Vì vậy, tuy tiềm năng phát triển cao nhƣng mức độ cạnh tranh mà Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức phải đối mặt là rất lớn khi có rất nhiều ngân hàng cũng đã thực hiện mở rộng các chi nhánh về khu vực này, và cùng với đó là nhiều RRTD đi kèm. Nhận thức đƣợc vấn đề này, em đã quyết định nghiên cứu chủ đề: “Nâng cao chất lƣợng an toàn tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức” với mong muốn đƣợc góp sức nâng cao việc tăng cƣờng an toàn tín dụng tại chi nhánh nói riêng và toàn ngành ngân hàng nói chung. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu những lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng doanh nghiệp và chất lƣợng an toàn tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại. Đánh giá về thực trạng về hoạt động KDTD doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức và đƣa ra nhận định về chất lƣợng an toàn tín dụng của phòng KH Doanh nghiệp của Chi nhánh.
Đề xuất một số các giải pháp góp phần làm nâng cao an toàn cho hoạt động KDTD doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Chất lƣợng và mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh doanh tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức. 2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động KDTD của phòng KH Doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức. Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu từ thời điểm thành lập của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức (2018) đến nay, tuy nhiên sẽ tập trung vào khoảng thời gian bắt đầu từ tháng 10/2021 (thời điểm sinh viên bắt đầu quá trình thực tập tại đơn vị) 4.
Phƣơng pháp nghiên cứu Dữ liệu đƣợc sử dụng trong bài nghiên cứu đƣợc tổng hợp từ các dữ liệu trong quá trình làm việc tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân Đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài, sử dụng làm dẫn chứng để sử dụng trong việc phân tích mức độ an toàn tín dụng doanh nghiệp tại Chi nhánh. Ngoài ra, một số thông tin sử dụng trong bài nghiên cứu đƣợc tham khảo hoặc trích dẫn từ những cuốn sách từ các tác giả có tiếng trong ngành hoặc các bài viết từ các trang báo điện tử uy tín. Bài nghiên cứu sử dụng tổng hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu, trong đó, phƣơng pháp đƣợc sử dụng chủ yếu có thể kể đến nhƣ quan sát, đối chiếu, thực nghiệm,. để đánh giá chất lƣợng và mức độ an toàn trong quá trình KDTD doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân Đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức.
Kết cấu bài nghiên cứu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng an toàn tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức Chƣơng 2: Thực trạng về chất lƣợng an toàn tín dụng tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng an toàn tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội Việt Nam - Chi nhánh Hoài Đức 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG AN TOÀN TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI VIỆT NAM - CHI NHÁNH HOÀI ĐỨC 1. Cơ sở lý luận chung về tín dụng doanh nghiệp và chất lƣợng an toàn tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng Thƣơng mại Ngân hàng Thƣơng mại là ngân hàng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thông qua việc kinh doanh tiền tệ, cấp tín dụng bằng cách sử dụng tiền gửi của KH, từ đó thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán. Ngân hàng Thƣơng mại, với tƣ cách là một tổ chức kinh doanh, là một loại hình doanh nghiệp và một đơn vị kinh tế, hoạt động dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động KDTD hiện đang chiếm phần lớn doanh thu của hầu hết tất cả các Ngân hàng Thƣơng mại tại Việt Nam.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu vay tiền. Trong nghiệp vụ KDTD, ngân hàng đóng vai trò làm vị trí trung gian tín dụng, trong đó, ngân hàng sử dụng tiền gửi tiết kiệm của của KH để cung cấp vốn tạm thời cho KH khác, điều này mang lại những lợi ích sau: đối với KH gửi tiết kiệm, họ có thể kiếm thêm thu nhập thụ động từ khoản tiền nhàn rỗi của mình; đối với KH vay tiền, họ có thể bổ sung vốn tạm thời để phục vụ mục đích mong muốn; đối với ngân hàng, việc này mang lại lợi nhuận khi ngân hàng sẽ thu đƣợc lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất tiết kiệm và LSTD; đối với nền kinh tế, điều này giúp điều phối dòng tiền từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, góp phần kích thích tăng trƣởng kinh tế. Khi bên vay có nhu cầu tín dụng, ngân hàng sẽ thực hiện đánh giá năng lực tài chính của bên vay và nếu đủ điều kiện, bên vay có thể chuyển giao tài sản bảo đảm cho ngân hàng đổi lấy số tiền vay theo các điều khoản trong hợp đồng tín dụng. Sau khi hết thời gian đã cam kết trong hợp đồng, bên vay phải thanh toán cả tiền vốn và tiền lãi cho ngân hàng.
Trong hầu hết tất cả các Ngân hàng Thƣơng mại hiện nay, hoạt động KDTD đƣợc chia thành 2 bộ phận chính: KH Cá nhân và KH Doanh nghiệp. Hai bộ phận trên tuy có mục đích và phƣơng thức hoạt động khá tƣơng đồng dựa trên mối quan hệ tín dụng giữa bên cho vay (ở đây là ngân hàng) và bên vay nhƣng lại đòi hỏi những điều kiện khác nhau. Tín dụng doanh nghiệp là những khoản vay nhằm vào 4 mục đích phục vụ việc SXKD nhƣ đầu tƣ trang thiết bị hoặc bổ sung vốn lƣu động. Tín dụng doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản có thể kể đến nhƣ: Bên vay rất đa dạng về loại hình tổ chức, ngành nghề, trình độ tổ chức,.; những khoản cho vay thƣờng mang giá trị lớn hơn rất nhiều so với tín dụng cá nhân, mang đến mức độ rủi cho cao hơn cho ngân hàng, tuy vậy đƣợc bù đắp lại bằng tiềm năng số lƣợng khoản vay lớn mỗi khi hết chu kỳ vòng quay vốn, từ đó tạo ra nguồn thu lớn cho ngân hàng; nhu cầu tín dụng của KH doanh nghiệp cũng vô cùng đa dạng từ thời điểm có nhu cầu tín dụng đến quy mô và hình thức tín dụng;.