CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHDN TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NHTM 1. Khái niệm, vai trò và phương pháp chấm điểm tín dụng tại NHTM 1. Khái niệm Chấm điểm tín dụng (CĐTD) là quá trình đánh giá rủi ro tiềm tàng của bên vay vốn dựa trên một phổ điểm cụ thể. Đây được xem là một cách nhận xét tài chính được hiểu rộng rãi và có cái nhìn khách quan về khả năng thanh toán nợ của KH và các rủi ro liên quan đến việc cho vay tiền.
Hình thức CĐTD là một cách hữu ích giúp cho nhà quản trị có thể lựa chọn lúc nào nên cho vay, khoản nợ cần phải là bao nhiêu và cần xây dựng những chiến lược gì để tăng lợi nhuận trong khi vẫn duy trì việc xem xét khả năng rủi ro một cách thật hiệu quả. Như vậy cũng giúp tăng độ tin cậy của các ngân hàng hoặc tổ chức hoạt động tín dụng, chắc chắn rằng họ sẽ có thể vay vốn và tăng cường sự lớn mạnh của các đối tác vay một cách bền vững. Việc xây dựng một công cụ chấm điểm hiệu quả mang lại rất nhiều lợi ích cho các TCTC và đầu tư. Điều này giúp cải thiện dòng vốn, đảm bảo tài sản thế chấp phù hợp, giảm các khoản lỗ tín dụng, giảm chi phí phân tích tín dụng, rút ngắn thời gian đưa ra quyết định cấp tín dụng và đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng theo các phân cấp rủi ro khác nhau.
Ngoài ra, công cụ CĐTD còn giúp các tổ chức tài chính hiểu rõ hơn về hành vi và khả năng thanh toán nợ của KH. Quá trình đánh giá tín dụng của khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đo lường định lượng rủi ro tiềm tàng. Thông qua việc phân tích dữ liệu về khách hàng, ta có thể đưa ra các thông tin liên quan đến khả năng trả nợ của họ trong tương lai, từ đó đánh giá rủi ro cho khoản vay. Việc này giúp ngân hàng đưa ra quyết định cho vay một cách cân nhắc và hiệu quả hơn, đồng thời bảo vệ quyền lợi của chính khách hàng cũng như sự ổn định của thị trường tài chính.
Hoạt động này cũng có thể được hiểu như một kỹ thuật khai thác dữ liệu, tìm kiếm các quy luật của các dữ liệu lịch sử và áp dụng để đưa ra quyết định về việc cấp tín dụng cho các khách hàng trong tương lai là một quá trình quan trọng và phức tạp, đòi hỏi sự đánh giá kỹ lưỡng về khả năng trả nợ của khách hàng thông qua việc thu thập và phân tích các thông tin liên quan như lịch sử tín dụng, thu nhập, tài sản và các yếu tố khác. Công tác xây 10 dựng một công cụ chấm điểm hiệu quả sẽ mang đến rất nhiều lợi ích cho các tổ chức tài chính. Nó giúp cải thiện dòng vốn, đảm bảo tính phù hợp của tài sản thế chấp, giảm thiểu rủi ro trong khoản vay và giảm chi phí phân tích tín dụng. Từ đó, các TCTC có thể đưa ra quyết định về tín dụng một cách chính xác và đáng tin cậy, giúp tăng cường sự ổn định của thị trường tài chính và bảo vệ quyền lợi của khách hàng, giảm thời gian đưa ra quyết định cấp tín dụng và đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng theo các phân cấp rủi ro khác nhau.
Mặc dù CĐTD xếp hạng mức độ rủi ro tín dụng của người vay, nhưng nó không đưa ra ước tính về xác suất vỡ nợ của người vay. CĐTD chỉ đánh giá mức độ rủi ro của người đi vay, xếp theo thứ tự từ cao nhất đến thấp nhất. Vì vậy, không có khả năng xác định chính xác liệu Bên vay A có mức độ rủi ro gấp đôi so với Bên vay B hay không. Một khái niệm tương tự với CĐTD là XHTD, được áp dụng cho các công ty, chính phủ và các tổ chức chứng khoán.
Xếp hạng tín dụng được thực hiện bằng cách sử dụng một thang điểm chữ cái để đánh giá mức độ đáng tin cậy trong việc trả nợ của thực thể đó. XHTD xác định cả lãi suất cho khoản hoàn trả và liệu người đi vay có được chấp thuận cho vay tín dụng hoặc phát hành nợ hay không. "Xếp hạng tín dụng" (credit ratings) là một thuật ngữ vay mượn từ tiếng Anh, gồm hai từ "credit" (tín nhiệm) và "ratings" (xếp hạng). Khái niệm này được đưa ra bởi John Moody 1909, trong cuốn "Cẩm nang chứng khoán đường sắt", ông đã tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm cho 1500 loại trái phiếu của 250 công ty.
Hệ thống xếp hạng bao gồm ba chữ cái A, B, C được sắp xếp theo thứ tự từ "AAA" đến "C" được sử dụng như một tiêu chuẩn quốc tế để xếp hạng tín dụng. Tuy nhiên, đây chỉ là một hệ thống việc đánh giá mức độ RRTD của người đi vay không thể chính xác xác định xác suất vỡ nợ của một người vay cụ thể. Ở Việt Nam, điểm khác trong việc sử dụng thuật ngữ “chấm điểm tín dụng” và “xếp hạng tín dụng” là chưa rõ ràng. Do đó, trong khuôn khổ bài nghiên cứu, tác giả sử dụng tương đương hai thuật ngữ này như cùng một khái niệm để phân tích nghiên cứu.
Như vậy, CĐTD là một phân tích thống kê được thực hiện bởi những người cho vay và các tổ chức tài chính để đánh giá mức độ đáng tin cậy của một cá nhân 11 hoặc một doanh nghiệp. Các TCTD sử dụng điểm tín dụng làm tiêu chí quan trọng để đánh giá khả năng khách hàng hoàn trả nợ. Dựa trên điểm tín dụng, quyết định sẽ được đưa ra về việc cấp hoặc từ chối cấp tín dụng cho KH. Giao dịch tín dụng ở các điểm ít nhiều có ảnh hưởng đến giao dịch tài chính ngân hàng, bao gồm cấp tín dụng có TSBĐ, cấp tín dụng có bảo đảm một phần bằng TSBĐ hoặc cấp tín dụng không có TSBĐ.
Vì vậy, điểm tín dụng là một yếu tố quan trọng trong quyết định cấp tín dụng và nó sẽ được đánh giá một cách cẩn thận việc cấp hay từ chối tín dụng. Vai trò CĐTD đóng vai trò như một công cụ giúp cho các TCTD có thể đánh giá được mức độ uy tín của khách hàng trước khi quyết định có cho khách hàng đó vay hay không. Điểm tín dụng cũng được xem như nấc thang đo lường khả năng vay vốn của một KH nào đó, điểm tín dụng cũng quyết định đến hạn mức vay tối đa mà ngân hàng có thể giải ngân khi khách hàng có nhu cầu vay vốn. Ngoài ra, điểm tín dụng cũng sẽ ảnh hưởng đến những lần vay tiếp theo của KH nếu điểm tín dụng của KH thấp hơn số điểm tối thiểu mà một ngân hàng cho phép.
Đối với nền kinh tế vĩ mô, CĐTD đóng vai trò thiết yếu trong sự tăng trưởng kinh tế. Đối với khách hàng, điểm tín dụng giúp tăng khả năng được phê duyệt cho vay. Đặc biệt, đối với DN có quy mô vừa và nhỏ, điểm tín dụng giúp tăng khả năng tiếp cận với các nguồn lực tài chính cho DN, giúp giảm chi phí và quản lý rủi ro hiệu quả. Phương pháp chấm điểm tín dụng Để đánh giá rủi ro tín dụng, chúng ta có thể áp dụng hai phương pháp phổ biến là phương pháp chuyên gia và phương pháp thống kê.
Trong khi phương pháp chuyên gia dựa trên nhận định của các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, phương pháp thống kê sử dụng các dữ liệu thống kê để tính toán xác suất RRTD. Mỗi phương pháp đều có các ưu nhược điểm khác nhau. Phương pháp chuyên gia dựa trên ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực TCNH, qua đó các chuyên gia sẽ nhận định dựa trên các thông tin chủ yếu về mức độ 12 rủi ro của một khoản tín dụng. Thông tin có thể bao gồm: tình trạng kinh tế chung, tình trạng ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, lịch sử quan hệ tín dụng và các yếu tố khác liên quan.
Phương pháp này có thể cho kết quả chính xác nếu được thực hiện bởi các chuyên gia có hiểu biết sâu sắc và có kinh nghiệm về thị trường tài chính. - Đặc điểm chung của bên vay vốn (character) bao gồm việc đánh giá danh tiếng và sự trung thực của đối tượng vay vốn, là một trong những yếu tố quan trọng để dự đoán khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. - Thẩm định vốn (capital): Đây là bước đánh giá sự chênh lệch giữa nguồn vốn và tài sản của người cho vay. Tài sản là giá trị mà ngân hàng có thể thu hồi được khi bên vay vốn không thể trả được nợ.
Người vay có nguồn vốn gồm các chi phí đang phải trả, chẳng hạn như chi tiêu cho sinh hoạt gia đình, chi phí trả lãi cho các khoản vay khác. Sau khi trừ đi các chi phí này, chúng ta mới có thể tính được giá trị khả dụng của bên vay, và đánh giá liệu giá trị này có đủ để trả lãi vay hay không. - Tài sản bảo đảm (collateral) là yếu tố giúp làm tăng tính tin cậy và minh bạch của các khoản vay. Xét theo tài sản bảo đảm, cấp tín dụng được phân loại thành hai hình thức: cấp tín dụng có TSBĐ (còn gọi là thế chấp) và cấp tín dụng không có TSBĐ (còn gọi là tín chấp).
Do rủi ro giữa hai hình thức cấp tín dụng này khác nhau, ngân hàng sẽ thiết lập lãi suất và hạn mức cho mỗi hình thức khác nhau để đảm bảo sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận của mình. Đối với vay thế chấp, ngân hàng sẽ phải thực hiện định giá tài sản thế chấp để quyết định về số tiền cho vay tối đa có thể cấp cho KH. Tuy rủi ro đối với các khoản vay thế chấp thấp hơn so với tín chấp, RRTD vẫn luôn tồn tại. Nếu khách hàng không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng có quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay.
- Khả năng trả nợ (capacity): Đây là các thông tin liên quan trực tiếp đến tài chính của người vay, bao gồm nghề nghiệp, mức thu nhập, trạng thái hôn nhân, số người phụ thuộc và các khoản chi phí hàng tháng. Thông tin này giúp đánh giá khả năng tài chính của người vay và xác định được mức độ có thể trả nợ hàng tháng,… 13 - Phân tích điều kiện (condition): Đây là giai đoạn đánh giá khái quát về tình hình thị trường, tài chính, sự cạnh tranh và mục đích sử dụng vốn của người vay.