MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Học vấn có tầm quan trọng rất lớn đối với mỗi cuộc đời con người. Suốt lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tàng kiến thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách).
Muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ còn một con đường duy nhất là học, học suốt đời. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã quyết định đẩy mạnh tiến trình Công nghiệp hóa , hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Trước đó, tại Báo cáo chính trị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII - Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Trong các nguồn lực tác động đến sự phát triển xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay thì nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất, đóng vai trò then chốt.
Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học - công nghệ, nguồn vốn, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định nhất, bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực con người được phát huy. Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú cà có khả năng nội sinh không bao giờ cạn. Ngược lại nguồn lực con người càng được sử dụng, lại càng được nâng cao chất lượng hiệu quả Dạy nghề Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với sự xuất hiện, tồn tại của nền văn minh lúa nước, của các làng nghề truyền thống và quá trình CNH – HĐH đất nước. Phát triển và đổi mới toàn diện dạy nghề là chủ trương của Đảng và nhà nước ta, được thể hiện trong các Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và trong các Nghị quyết, kết 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luận của Bộ chính trị, của Ban chấp hành TW Đảng trong đó đã xác định rõ vị trí vị trí quan trọng của đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Đặc biệt, dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nêu rõ: Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân là một trong ba khâu đột phá chiến lược…Trong 10 năm trở lại đây, hệ thống dạy nghề trong cả nước đã được phục hồi và có bước phát triển mạnh, từng bước đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế theo hướng CNH - HĐH và hội nhập, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển con người.[5] Vấn đề việc làm hiện cũng đang là vấn đề được công tác xã hội quan tâm, trong mỗi quốc gia, giải quyết việc làm là vấn đề then chốt thường xuyên được đề cập tới. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc giải quyết nhân lực, việc làm với sự phát triển của đất nước và để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế quốc tế, trong đó vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng chuẩn đầu ra chính là sự khẳng định của cơ sở dào tạo nghề về trình độ, năng lực, phẩm chất của sinh viên sau khi kết thúc chương trình học. Trường CĐN Công nghiệp Hà Nội là đơn vị tiên phong trong đào tạo nghề chất lượng cao, là đơn vị được đầu tư trọng điểm để trở thành trường chất lượng cao đạt chuẩn quốc tế. Việc nâng cao năng lực và thái độ học tập của sinh viên nhà trường được coi là một yếu tố quan trọng, quyết định việc đẩy mạnh chất lượng đào tạo.
Tuy nhiên thực tế cho thấy chất lượng đào tạo của trường chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội, điều này có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó sự cam kết trong hoạt động học tập của sinh viên có thể là một yếu tố tác động không nhỏ đến chất lượng đào tạo. Để đạt được mục đích đề ra, các yếu tố để đo động cơ học tập luôn được xem là một nhân tố quan trọng. Để đo động cơ học tập, chúng ta phải xem xét sự cam kết của 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người học đối với hoạt động học tập. Cam kết ở đây được hiểu là chấp nhận dành thời gian, tâm trí và sức lực cho việc học.
Xuất phát từ những cơ sở thực tiễn và nhận thức trên, tác giả chọn đề tài “Nâng cao mức độ cam kết học tập của sinh viên trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội” để làm luận văn thạc sĩ. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học và học, quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường, giúp nhà trường đạt được các mục tiêu trong giáo dục - đào tạo. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Tổng quan những nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu đề cập đến động cơ học tập của học sinh dưới nhiều góc độ như: Những yếu tố liên quan đến học sinh như kết quả học tập, động cơ và các vấn đề về hành vi (Rumberger, 2004; Bean, 1985; Rumberger 1995, 2004; Hickman et al.
Những yếu tố liên quan đến gia đình như hoàn cảnh kinh tế-xã hội, sự hỗ trợ hoặc quan tâm từ phía cha mẹ, bầu không khí cảm xúc trong mối quan hệ cha mẹ và con (Dalton & cs. 2009; Cooper et al. Những yếu tố liên quan đến nhà trường như số học sinh, bầu không khí xã hội và học tập, tương tác giữa học sinh và khoa/trường (Pittman, 1993; Pittman &Haughwout , 1987; Pittman & Haughwout, 1987). Những yếu tố liên quan đến cộng đồng như đặc điểm của láng giềng, thành tích học tập cao và nguồn cảm hướng từ bạn bè trong cùng môi trường (Rumberger, 2004; Cooper & cs.
Ngoài ra, một số nghiên cứu thực hiện theo lý thuyết về sự tự quyết (Self- determination theory, Deci & Ryan, 1985; Ryan & Deci, 2000) đã tập trung nghiên cứu quá trình dẫn đến hành vi bỏ học (Hardre & Reeve, 2003; Vallerand, Fortier, & Guay, 1997; Vansteenkiste, Zhou, Lens, & Soenens, 2005; Alivernini 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những nghiên cứu này đã tìm hiểu hiệu ứng tổng hợp của cả 3 nhóm yếu tố liên quan đến học sinh, gia đình và nhà trường. Rất nhiều nghiên cứu theo lý thuyết về sự tự quyết đã chỉ ra rằng sự hỗ trợ từ phía cha mẹ và thầy cô giáo sẽ có ảnh hưởng tích cực đến động cơ học tập và đem lại kết quả tích cực (Reeve, Nix & Hamm, 2003; Chirkov & Ryan, 2001; Reeve, 2006; Soenens & Vansteenkiste, 2005…). Tuy nhiên vai trò từ phía nhà trường vẫn chưa được quan tâm tìm hiểu nhưng sự hỗ trợ tính tự chủ từ phía nhà trường cũng có thể có những ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh.
Theo sự hiểu biết của chúng tôi, chỉ có hai nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của sự quản lý nhà trường đến động cơ học tập (Sénécal, Vallerand and Pelletier, 1992; Vallerand, Fortier & Guay, 1997) và chỉ có một nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng từ sự quản lý nhà trường đến động cơ và ý định cũng như hành vi bỏ học. Tuy vậy, kết quả của những nghiên cứu này cũng chỉ giới hạn trong các khách thể nghiên cứu Tây Âu và Bắc Mỹ. Vansteenkiste, Zhou, Lens & Soenenstập trung tìm hiểu quá trình dẫn đến việc bỏ học một khóa học tiếng Anh trên các sinh viên Trung Quốc. Nghiên cứu này cho thấy động cơ tự chủ có tương quan thuận chiều với thái độ, sự tập trung, sự quản lý thời gian và hành vi học tập tích cực trong khi nó có tương quan ngược chiều với sự lo lắng về hiệu quả của khóa học.
Động cơ tự quyết không có liên hệ với hành vi lảng tránh, thụ động trong học tập và tình trạng bỏ học. Các kết quả trái ngược được tìm thấy đối với động cơ bị kiểm soát. Động cơ bị kiểm soát có tương quan ngược với thái độ, sự tập trung, sự quản lý thời gian trong khi nó có trương quan thuận với lo lắng về hiệu quả, hành vi lảng tránh thụ động trong học tập và sự bỏ học. Tổng quan những nghiên cứu tại Việt Nam Trong bài báo “Các thời kỳ phát triển giáo dục nghề nghiệp trên thế giới” của tác giả Võ Thị Xuân đăng trên tạp chí Khoa học Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012, tác giả đã chia sự phát triển của nền giáo 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục nghề nghiệp thế giới làm 05 thời kỳ.
Tác giả cho rằng, cùng lịch sử văn minh nhân loại, lịch sử giáo dục nghề nghiệp cũng đã trải qua những giai đoạn phát triển gắn liền với quá trình lao động của con người. Từ bắt chước tự nhiên đến học nghề có ý thức làm cho kỹ năng lao động ngày càng được cải tiến. Giáo dục nghề nghiệp ngày càng phát triển vì con người luôn luôn tìm cách nâng cao năng suất lao động bằng sự học tập không ngừng, hoàn chỉnh những công cụ lao động có sẵn, chế tạo những công cụ lao động mới tinh vi và phổ biến những phương pháp lao động tiến tiến để đem lại năng suất cao hơn.Trên thế giới, từ thế kỷ XV, các trường dạy nghề đã xuất hiện khắp châu Âu để đào tạo mọi loại hình nghề nghiệp sản xuất. Cụ thể ở Pháp có các trường dạy nghề cầu cống (1747), tại Anh có các trường dạy nghề cho người lớn (1798), tại Đức có trường mỏ (1765), tại Thụy Sỹ có các trường dạy nghề cho trẻ mồ côi (1798)…Tuy mỗi hệ thống có những nét khác biệt nhưng tất cả đều có vai trò quan trọng, giúp thúc đẩy giáo dục nghề nghiệp phát triển và ngày càng chuyên nghiệp hơn.