CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu nấm độc trên thế giới Giới nấm là một trong những giới sinh vật có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của chúng ta. Từ xưa con người đã biết lợi ích và tác hại của nấm.
Vì vậy việc nghiên cứu chúng để phát hiện được những mặc lợi của nấm, đặc biệt hơn là biết được những tác hại của các loài nấm độc để ngăn ngừa gây hại đã được tiến hành trong nhiều thế kỷ qua [14]. Trên thế giới các loài nấm độc được nghiên cứu ở nhiều nơi, nhiều vùng khác nhau. Trong đó ở Châu Âu, Bắc Mỹ được nghiên cứu đầy đủ nhất. Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ viện nghiên cứu còn ít hơn[8].
Nhìn chung ở Châu Âu là một trong những vùng được nghiên cứu hoàn thiện do các tác giả: Rea (1922), Maublane (1924-1937), Kũhner & Romagesie (1953), Ku-sa-nốp (1956), Moser (1967), Kreisel (1969), Zerova (1979), Wasser (1980), Murrill (1949)… Vào thế kỷ IV trước công nguyên, hai nhà bác học người Hy Lạp là Théophraste và Aristote đã đề cập đến nấm cục (Tuberaceae) và nấm tán (Agaricaceae) trong tác phẩm của mình [7]. Đến thể kỷ thứ I sau công nguyên nhà tự nhiên học người La Mã Pline đã nhắc đến nhiều nấm sống trên gỗ. Pline là người đầu tiên phân loại nấm dựa vào hình dạng ngoài và giá trị kinh tế của nấm, ông chia nấm thành hai nhóm : nấm ăn và nấm độc. Từ đó con người bắt đầu chú ý đến giá trị sử dụng của các loài nấm và biết được tác hại của một số loài nấm độc.
Tuy nhiên trong suốt thời gian khá dài từ thế kỷ thứ IV trước công nguyên đến thế kỷ thứ XVIII sau công nguyên con người vẫn còn quan niệm sai lầm về nấm Mecker (1775) cho rằng nấm là tập hợp của mô và tế bào thực vật. Michelelier là người đầu tiên đã chứng minh rằng : nấm phát triển từ các bào tử. Palisot de Beauvois đã chứng minh: nấm cũng có tổ chức, chúng có sợi, nở hoa (chín bào tử), phát sinh, phát triển và tiêu diệt [7]. Thời kỳ nấm học phát triển rực rở là cuối thế kỷ XVIII – XIX, với những công trình nổi tiếng của các tác giả : Bulliard (1791, 1813, 1815), Fries (1821, 1830, 1832, 1838), Saccardo (1888), Patouillard (1890 – 1928)[8].
Vào đầu thế kỷ XX, nấm học phát triển mạnh mẽ. Nhiều công trình nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Đặc biệt trong 30 – 40 năm qua. Một số chi mới đã được mô tả chủ yếu dựa váo các đặc điểm hiển vi.
Kết quả là các nhà nấm học đã hình thành một hệ thống phân loại khá ổn định ở Châu Âu, Bắc Mỹ như hệ thống của Domaski (1960), Jahn (1963), Ryvarden (1976 – 1978) Gilbertson và Ryvarden (1986, 1987, 1993, 1994) [7]. Tác giả Vellinga EC. ‘Chlorophyllum and Macrolepiota (Agaricaeae) in Australia’’ ở tại Australian [7]. Bộ Agaricales xuất sứ từ chi Agaricus do Line (1753) mô tả trong công trình “Species plantarum” và ông đã xếp tất cả các nấm vào một bộ với tên là Agaricales.
Đây là một trong những bộ quan trọng và phức tạp của nấm mũ do sự đa dạng và phong phú của chúng. Chính vì vậy, nên từ trước đến nay có rất nhiều ý kiến và quan điểm của những nhà nghiên cứu nấm về bộ này như: Maire, 1933, Heim , 1934: Kũhner & Romagesie, 1953; Donk, 1960: Zerova & Waser, 1974: T. Kiệt, 1981: Michael Henning, Kreisel, 1988 và đã đưa ra hệ thống của mình. Singer là người đóng góp nhiều nhất vào hệ thống của bộ Agaricales và quan điểm của ông được nhiều nhà nấm học chấp nhận [8].
Tình hình nghiên cứu nấm độc ở Việt Nam Ở Việt Nam trước năm 1890 không có công trình nào nghiên cứu về nấm, trong khoảng gần 40 năm từ 1890 – 1928 có một vài công trình của người Pháp, chủ yếu là của Patouillard, 1890-1920. Còn các công trình của người Việt Nam mãi sau 1953 mới có. Năm 1953, người đầu tiên nghiên cứu về nấm là Phạm Hoàng Hộ, trong công trình ‘‘Cây Cỏ Việt Nam’’ ông đã mô tả vắn tắt 48 chi và 31 loài nấm lớn. Ở miền bắc Việt Nam, việc nghiên cứu nấm được bắt đầu vào năm 1954 tại Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ với các công trình tiêu biểu của Nguyễn Văn Diễn đã mô tả 28 loài nấm ăn được và 10 loài nấm độc, Trịnh Tam Kiệt với đề tài “Bước đầu điều tra bộ Aphyllophorales vùng Hà Nội” (1965) [12] và “Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính ở một số vùng miền Bắc Việt Nam” (1966) [12].
Tính đến năm 1978 đã có 618 loài thuộc 150 chi được ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các tác giả: Lê Bá Dũng (1977) “Nghiên cứu họ Polyporaceae miền Bắc Việt Nam” đã mô tả 22 loài, Lê Văn Liễu (1977) “Một số nấm ăn được và nấm độc ở rừng” với 118 loài [10]. Năm 1991, Phan Huy Dục công bố “Kết quả bước đầu điều tra bộ Agaricales Clements trên một số địa điểm thuộc đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam”, tác giả đã nêu danh lục 56 loài. Cùng năm 1991, Ngô Anh công bố công trình “Nghiên cứu nấm ở Thành Phố Huế” với 104 loài , “Dẫn liệu bước đầu về họ Coriolaceae Sing ở Thừa Thiên Huế” đã nêu danh mục 60 loài [2].
Năm 2001, Lê Bá Dũng công bố “Thành phần loài của chi Hexagonia Fr. ở vùng Tây Nguyên” [8] gồm 5 loài, trong đó Hexagonia rigida Berk. là loài mới cho khu hệ nấm Việt Nam. Hội thảo quốc tế sinh học năm 2001 tại Hà Nội có các báo cáo như: Ngô Anh với công trình “Sự đa dạng về công dụng của khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế” gồm 326 loài trong 6 nhóm nấm có ích và có hại, Phan Huy Dục báo cáo “Nấm (Macromyces) ở vườn Quốc Gia Tam Đảo Vĩnh Phúc” công bố 41 loài, 17 họ trong 2 lớpAscomycetes và Basidiomycetes [4].
Thời gian này cũng xuất hiện những công trình nghiên cứu của Trịnh Tam Kiệt và các tác giả khác đã đưa ra danh lục các loài nấm lớn của Việt Nam gồm 1250 loài (2001) đã được ghi nhận ở Việt Nam trong Danh lục các loài Thực vật Việt Nam. Gần đây, trong công trình ‘Nấm lớn ở Việt Nam’’ tập 1 (2001) [9], tập 2 (2012) [10] các loài nấm lớn ở Việt Nam đã được nâng lên đáng kể. Ở nước ta đã có một số báo cáo về thành phần loài nấm ở một số địa phương như Thừa Thiên Huế (Ngô Anh, 2003) [2]. Vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh (Trần Văn Mão, 1984), tĩnh Tây Ninh (Nguyễn Thị Đức Huệ, 2000), Vườn quốc gia Cát Tiên (Lê Xuân Thám, 2009).
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu nấm độc ở Việt Nam thời gian đầu tuy mới chỉ thống kê và mô tả thành phần loài nhưng đến nay việc nghiên cứu nấm đã và đang được đẩy mạnh, có những bước tiến vững chắc. Việc nghiên cứu không chỉ hạn hẹp ở các khu vực thuộc các tỉnh phía Bắc và phía Nam mà còn được mở rộng trên phạm vi cả nước. Việc nghiên cứu không dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê thành phần loài mà còn nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái, sinh lí khác nhau của các loài nấm [2]. Đặc điểm thành phần độc tố một số loài nấm độc.
Có nhiều loại nấm độc mang độc tố khi mà con người chúng ta ăn vào, nó sẽ phá hủy gan, thận và gây chết sau vài ngày vì độc tố trong nó cực mạnh. Các triệu chứng thường xuất hiện khoảng 30 phút hoặc 6-12 giờ sau khi ăn tùy thuộc vào từng loại nấm nhưng có thể gây tổn hại gan và tử vong trong vòng một tuần. Có những loại nấm không gây chết người sau vài ngày nhưng độc tố tích tụ từ chúng có thể gây ung thư. Ngoài ra còn những loài ăn vào bị ngộ độc gây ra các triệu chứng như: nôn, ỉa chảy, ra mồ hôi nhiều, co giật, hạ huyết áp… sau đây là bảng về thành phần độc tố của một số loài nấm độc [21]: Bảng 1.2 Thành phần độc tố của một số loài nấm độc : Xuất hiện Triệu chứng & Độc tố Nấm Tỉ lệ triệu chứng Dấu hiệu tử vong - Amanita phaloides Amatoxin - A.
6 - 12 giờ Nôn, ỉa chảy, 60%- verna vàng, gan to, vô 80% - A. niệu, phù phổi - Galerina cấp, rối loạn ý thức Monometh - Gyromitra 6 - 12 giờ Nôn, ỉa chẩy, co yl- - Helvella giật, hôn mê, 40% hydrazine yếu cơ Allenic - Amanita smithiana 1 - 6 ngày Suy thận cấp norleucine thiểu niệu, vô niệu Orellamine - Cortiuarius 1 - 12 ngày Viêm thận ống orellanus kẽ thận Muscarine - Clitocybe dealbata 30 phút - 2 Tiết nước bọt và 5% - Inocybe giờ mồ hôi, nôn, ỉa chảy, co đồng tử Coprine - Coprinus 30 phút Nôn, ỉa chảy, Hiếm armamentarius rối loạn nhịp tim (loại giống disulfiram) Ibotenic - Amanita muscaria 30 phút-2 Giống ngộ độc acid giờ atropin: Kích thích rộp đỏ da, dãn đồng tử, chướng bụng Psilocybin Psilocybe cubensis 30 phút - 1 Ảo giác, dãn giờ đồng tử, kích thích vật vã Kích thích Nhiều loại 30 phút - 2 Nôn, ỉa chảy Hiếm dạ dày ruột giờ Qua bảng 1.2 về thành phần độc tố của một số loài nấm độc cho ta thấy có khoảng 8 nhóm chất độc ở nấm [21]: 1. Nhóm Amanitoxin: Thường gặp ở các loài thuộc chi Amanita như: Amanita phalloides, A. virosa… với các triệu chứng khi trúng độc như: Đau bụng, nôn mửa dữ dội, tiêu chảy sau 12 giờ ăn phải.
Suy thận và gan, hôn mê và thường tử vong. Nhóm Gyromitin: Gặp ở các loài nấm Gyromitra esculenta, Gyrometra infula… sau 6 - 8 giờ ăn nấm có cảm giác sưng phù, buồn nôn, tiêu chảy, chuột rút, uể oải, thiếu kiểm soát cơ, bồn chồn và trong một số trường hợp có thể chết. Nhóm Orellaine: Gặp ở một số loài nấm thuộc chi Cortinarius như: Cortinarius orellanus, C. Có triệu chứng: Rất khát nước, kèm nóng và khô môi, nhức đầu, ớn lạnh.
Đau lưng hoặc đau bụng, nôn mửa. Tổn thương thận sau 3 đến 5 ngày[21]. Nhóm Muscarine: Thường gặp ở các loài nấm thuộc chi Clitocybe và Inocybe, là những loài nấm nhỏ, trắng hoặc nâu, thường gặp trên những bãi cỏ, gây ra triệu chứng 3 chảy: Chảy mồ hôi, chảy nước mắt, chảy nước bọt. Co thắt đồng tử, bị ảo giác, co bắp thịt, tiêu chảy, tim đập chậm và tụt huyết áp[21].
Muscimol: Gặp ở các loài thuộc chi Amanita như Amanita muscaria, A.gemmata, gây triệu chứng co bắp thịt, hoa mắt, nôn mửa, hôn mê với những ảo giác chỉ sau 2 giờ ăn phải[21]. Coprine: Chỉ gặp ở Coprinus atramentarius với triệu chứng mặt và cổ nóng sốt, tay chân có cảm giác như kiến bò.