Nghiên cứu thành phần loài và tác hại nấm độc tại Bình An, Thăng Bình, Quảng Nam

Nghiên cứu nấm độc tại Bình An, Thăng Bình, Quảng Nam: Thành phần loài, đặc điểm nhận dạng & tác hại tiềm ẩn. Tìm hiểu để phòng tránh ngộ độc nấm.

Trường đại học

Trường Đại Học Quảng Nam

Chuyên ngành

Sinh học - Bảo vệ thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận/nghiên cứu
47
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Lý do chọn đề tài

Mục tiêu của đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1. Phương pháp nghiên cứu

1.1. Ngoài thực địa

1.1.1. Phương pháp khảo sát

1.1.2. Phương pháp thu thập nấm

1.1.3. Phương pháp bảo quản mẫu từ địa điểm thu thập về phòng thí nghiệm

1.2. Trong phòng thí nghiệm

1.2.1. Phương pháp phân tích mẫu vật

1.2.2. Phương pháp xử lí mẫu vật

1.2.3. Phương pháp làm tiêu bản

1.2.4. Phương pháp thử nghiệm trên đối tượng chuột

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử nghiên cứu

1.1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu nấm độc trên thế giới

1.1.2. Tình hình nghiên cứu nấm độc ở Việt Nam

1.2. Đặc điểm thành phần độc tố một số loài nấm độc.

1.3. Đặc điểm, điều kiện tự nhiên xã Bình An

1.3.1. Vị trí địa lý, diện tích

1.3.2. Khí hậu

1.3.3. Địa hình

1.3.4. Đất đai

1.3.5. Thảm thực vật

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nấm Độc Quảng Nam Nhận Biết Nguy Cơ Tiềm Ẩn

Quảng Nam, với khí hậu nhiệt đới ẩm, là môi trường lý tưởng cho sự phát triển của nhiều loại nấm. Bên cạnh những loại nấm ăn được, có giá trị dinh dưỡng cao như nấm rơm, nấm hương, thì tồn tại không ít loài nấm độc nguy hiểm. Việc nhầm lẫn giữa nấm ăn đượcnấm độc dẫn đến ngộ độc nấm là một vấn đề đáng báo động, đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi. Việc phân biệt nấm độc và nấm ăn được là vô cùng khó khăn, thậm chí không thể bằng mắt thường, đặc biệt là với những người thiếu kinh nghiệm. Nhiều người dân vẫn còn những lầm tưởng tai hại, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Các loại nấm độc thường chứa độc tố nấm cực mạnh, gây tổn thương gan, thận, thậm chí tử vong. Tình trạng ngộ độc nấm ở Quảng Nam thường gia tăng vào đầu mùa mưa, khi các loại nấm dại mọc nhiều. Nghiên cứu về nấm độc Quảng Nam là vô cùng cần thiết để trang bị kiến thức cho người dân, giúp họ phòng tránh ngộ độc nấm và bảo vệ sức khỏe. Các nhà khoa học đã khuyến cáo rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng là tuyệt đối không hái các loại nấm không rõ ràng, chỉ hái nấm biết chắc là ăn được, tuyệt đối không được ăn nấm lạ, không ăn thử nấm nhưng rất nhiều người có những lầm tưởng giữa nấm độc và nấm ăn được dẫn đến những hậu quả khó lường. Phần lớn các loại nấm độc mang độc tố rất cao, hình dáng của chúng rất giống nấm rơm, nấm mối… làm cho người dân lầm tưởng là nấm ăn được, nhiều loại nấm độc khi mà con người chúng ta ăn vào, nó sẽ phá hủy gan, thận và gây chết sau vài ngày vì độc tố trong nó cực mạnh.

1.1. Sự Đa Dạng Sinh Học Nấm tại Hệ Sinh Thái Quảng Nam

Quảng Nam có hệ sinh thái nấm phong phú do điều kiện khí hậu và địa lý đặc trưng. Tuy nhiên, sự đa dạng này cũng đi kèm với sự xuất hiện của nhiều loài nấm độc, đòi hỏi sự hiểu biết và cảnh giác cao từ cộng đồng. Cần nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học nấm độc, điều kiện phát triển để có biện pháp phòng tránh hiệu quả.

1.2. Dịch Tễ Học Ngộ Độc Nấm Thực Trạng Đối Tượng Nguy Cơ Cao

Dịch tễ học ngộ độc nấm ở Quảng Nam cho thấy tình trạng này thường xảy ra ở các vùng nông thôn, nơi người dân có thói quen hái nấm dại về ăn. Trẻ em và người lớn tuổi là những đối tượng dễ bị ngộ độc nấm nhất do hệ miễn dịch yếu và thiếu kiến thức. Cần có những nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố nguy cơ gây ngộ độc nấm tại địa phương để có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

II. Thách Thức Phân Biệt Nấm Độc Ăn Được Bí Quyết Chuyên Gia

Một trong những thách thức lớn nhất trong phòng tránh ngộ độc nấm là sự tương đồng về hình dáng giữa nấm độcnấm ăn được. Nhiều loài nấm độc có màu sắc, kích thước, hình dạng rất giống với các loại nấm quen thuộc, khiến người dân dễ nhầm lẫn. Việc chỉ dựa vào kinh nghiệm dân gian để phân biệt nấm độc và nấm ăn được là vô cùng nguy hiểm, vì những kinh nghiệm này thường không chính xác và có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Việc nghiên cứu và xây dựng các tài liệu hướng dẫn chi tiết, dễ hiểu, có hình ảnh minh họa rõ ràng về các loại nấm độc thường gặp ở Quảng Nam là vô cùng cần thiết.

2.1. Cách Nhận Biết Nấm Độc Dấu Hiệu Hình Thái Đặc Điểm Cần Lưu Ý

Dù việc phân biệt nấm độc là khó khăn, vẫn có một số dấu hiệu hình thái có thể giúp nhận biết: nấm độc thường có màu sắc sặc sỡ, có vòng ở chân, có bao gốc, mũ nấm xù xì, có mùi hắc. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải tất cả nấm độc đều có những dấu hiệu này, và một số nấm ăn được cũng có thể có những đặc điểm tương tự. Do đó, việc nhận biết nấm cần dựa trên nhiều yếu tố và tham khảo ý kiến của chuyên gia.

2.2. Sai Lầm Thường Gặp Các Phương Pháp Phân Biệt Nấm Độc Sai Lệch

Nhiều người dân tin rằng nấm độc có thể được nhận biết bằng cách cho bạc vào nấu chung, hoặc cho hành vào thử. Tuy nhiên, những phương pháp này hoàn toàn không có cơ sở khoa học và không thể tin cậy. Cách tốt nhất để phòng tránh ngộ độc nấm là không ăn bất kỳ loại nấm nào mà mình không chắc chắn là ăn được.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Phân Tích Nấm Độc Hướng Dẫn Chi Tiết

Việc nghiên cứu khoa học về nấm độc đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thành phần loài, độc tính, và cơ chế gây độc của các loại nấm này. Các phương pháp nghiên cứu thường bao gồm thu thập mẫu nấm, phân tích hình thái, phân tích gen, và thử nghiệm độc tính trên động vật. Kết quả nghiên cứu giúp cung cấp thông tin chính xác và tin cậy về nấm độc, làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp phòng tránh ngộ độc nấm hiệu quả.

3.1. Quy Trình Thu Thập Bảo Quản Mẫu Nấm Độc Đúng Cách

Việc thu thập mẫu nấm cần được thực hiện cẩn thận, đảm bảo thu thập đầy đủ các bộ phận của nấm (mũ, thân, chân). Mẫu nấm cần được bảo quản trong điều kiện thích hợp để tránh bị hư hỏng, ảnh hưởng đến kết quả phân tích. Nên sử dụng giấy báo hoặc hộp đựng thoáng khí để bảo quản mẫu nấm.

3.2. Kỹ Thuật Phân Tích Hình Thái Giải Phẫu Nấm Độc trong Phòng Thí Nghiệm

Phân tích hình thái và giải phẫu nấm là một bước quan trọng trong việc xác định loài nấm. Các đặc điểm cần quan sát bao gồm màu sắc, kích thước, hình dạng, cấu trúc bề mặt của mũ, thân, chân nấm, cũng như các đặc điểm của phiến nấm, bào tử.

3.3. Thử Nghiệm Độc Tính Nấm trên Chuột Đánh Giá Mức Độ Nguy Hiểm

Thử nghiệm độc tính trên động vật, thường là chuột, giúp đánh giá mức độ độc hại của nấm. Chuột được cho ăn nấm với các liều lượng khác nhau, và các triệu chứng ngộ độc được theo dõi và ghi lại. Kết quả thử nghiệm giúp xác định độc tố trong nấm và mức độ nguy hiểm của chúng.

IV. Các Loại Nấm Độc Thường Gặp Ở Quảng Nam Nhận Diện Tác Hại

Nghiên cứu tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã xác định được 12 loài nấm độc thuộc 5 họ khác nhau. Trong đó, có một số loài đặc biệt nguy hiểm như nấm ô phiến xanh (Chlorophyllum molybdites), nấm độc tán trắng (Amanita verna), và nấm ô nhỏ độc (Lepiota brunneo-incarnata), có thể gây tử vong. Nấm xốp hồng (Amanita pantherina) có thể gây ảo giác. Việc nhận diện và hiểu rõ tác hại của các loại nấm độc thường gặp ở Quảng Nam là vô cùng quan trọng để phòng tránh ngộ độc nấm.

4.1. Nấm Ô Phiến Xanh Chlorophyllum Molybdites Đặc Điểm Triệu Chứng Ngộ Độc

Nấm ô phiến xanh có mũ màu trắng, khi già có ánh xanh, phiến nấm có màu xanh xám. Gây rối loạn tiêu hóa nặng, nôn mửa, tiêu chảy. Tác hại ít gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng gây khó chịu, mất nước.

4.2. Nấm Độc Tán Trắng Amanita Verna Nguy Cơ Tử Vong Biện Pháp Cấp Cứu

Nấm độc tán trắng có mũ màu trắng toát, phiến nấm xếp sít nhau. Chứa độc tố amanitin, gây hoại tử tế bào gan, thận. Ngộ độc có thể dẫn đến suy gan, suy thận, tử vong. Cần cấp cứu kịp thời bằng cách gây nôn, rửa ruột, và điều trị hỗ trợ chức năng gan, thận.

4.3. Nấm Xốp Hồng Amanita Muscarina Gây Ảo Giác Rối Loạn Thần Kinh

Nấm xốp hồng có mũ màu đỏ hồng, có các vảy màu trắng. Chứa độc tố muscarin và psilocybin, gây ảo giác, mất ngủ, rối loạn thần kinh. Ngộ độc có thể gây co giật, mê sảng. Cần điều trị triệu chứng và hỗ trợ chức năng thần kinh.

V. Xử Lý Cấp Cứu Khi Bị Ngộ Độc Nấm Hướng Dẫn Chi Tiết Cập Nhật

Khi nghi ngờ bị ngộ độc nấm, cần nhanh chóng thực hiện các biện pháp sơ cứu ban đầu như gây nôn, uống than hoạt tính, và đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất. Việc chẩn đoán và điều trị ngộ độc nấm cần được thực hiện bởi các chuyên gia y tế. Các phương pháp điều trị có thể bao gồm truyền dịch, lọc máu, và điều trị hỗ trợ chức năng gan, thận. Việc điều trị kịp thời và đúng cách có thể cứu sống nạn nhân.

5.1. Biện Pháp Sơ Cứu Ban Đầu Gây Nôn Uống Than Hoạt Tính Theo Dõi Sát

Gây nôn giúp loại bỏ bớt nấm trong dạ dày. Uống than hoạt tính giúp hấp phụ độc tố. Cần theo dõi sát các triệu chứng và đưa nạn nhân đến cơ sở y tế ngay lập tức.

5.2. Điều Trị Y Tế Chuyên Sâu Truyền Dịch Lọc Máu Hỗ Trợ Chức Năng

Truyền dịch giúp bù nước và điện giải. Lọc máu giúp loại bỏ độc tố khỏi máu. Điều trị hỗ trợ chức năng gan, thận giúp phục hồi chức năng của các cơ quan này.

VI. Phòng Tránh Ngộ Độc Nấm Ở Quảng Nam Bí Quyết Giải Pháp Hiệu Quả

Phòng tránh ngộ độc nấm là biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ sức khỏe. Cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về nấm độc, hướng dẫn người dân cách nhận biết nấm độc, và khuyến cáo không ăn bất kỳ loại nấm nào mà mình không chắc chắn là ăn được. Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc kinh doanh nấm, đảm bảo an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, các bài thuốc dân gian chữa ngộ độc nấm cần được nghiên cứu và sử dụng một cách thận trọng, dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia.

6.1. Tuyên Truyền Giáo Dục Cộng Đồng Nâng Cao Nhận Thức Về Nấm Độc

Tổ chức các buổi nói chuyện, phát tờ rơi, sử dụng các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, giáo dục về nấm độc và cách phòng tránh ngộ độc nấm.

6.2. Quản Lý Giám Sát Thị Trường Nấm Đảm Bảo An Toàn Thực Phẩm

Tăng cường kiểm tra, giám sát việc kinh doanh nấm, đảm bảo nấm được bán trên thị trường là nấm ăn được, có nguồn gốc rõ ràng, và không bị nhiễm độc.

6.3. Nghiên Cứu Ứng Dụng Bài Thuốc Dân Gian Chữa Ngộ Độc Nấm Cẩn Trọng

Nghiên cứu các bài thuốc dân gian chữa ngộ độc nấm, đánh giá hiệu quả và độ an toàn của chúng. Sử dụng các bài thuốc này một cách thận trọng, dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia y tế.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu nấm độc trên thế giới Giới nấm là một trong những giới sinh vật có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của chúng ta. Từ xưa con người đã biết lợi ích và tác hại của nấm.

Vì vậy việc nghiên cứu chúng để phát hiện được những mặc lợi của nấm, đặc biệt hơn là biết được những tác hại của các loài nấm độc để ngăn ngừa gây hại đã được tiến hành trong nhiều thế kỷ qua [14]. Trên thế giới các loài nấm độc được nghiên cứu ở nhiều nơi, nhiều vùng khác nhau. Trong đó ở Châu Âu, Bắc Mỹ được nghiên cứu đầy đủ nhất. Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ viện nghiên cứu còn ít hơn[8].

Nhìn chung ở Châu Âu là một trong những vùng được nghiên cứu hoàn thiện do các tác giả: Rea (1922), Maublane (1924-1937), Kũhner & Romagesie (1953), Ku-sa-nốp (1956), Moser (1967), Kreisel (1969), Zerova (1979), Wasser (1980), Murrill (1949)… Vào thế kỷ IV trước công nguyên, hai nhà bác học người Hy Lạp là Théophraste và Aristote đã đề cập đến nấm cục (Tuberaceae) và nấm tán (Agaricaceae) trong tác phẩm của mình [7]. Đến thể kỷ thứ I sau công nguyên nhà tự nhiên học người La Mã Pline đã nhắc đến nhiều nấm sống trên gỗ. Pline là người đầu tiên phân loại nấm dựa vào hình dạng ngoài và giá trị kinh tế của nấm, ông chia nấm thành hai nhóm : nấm ăn và nấm độc. Từ đó con người bắt đầu chú ý đến giá trị sử dụng của các loài nấm và biết được tác hại của một số loài nấm độc.

Tuy nhiên trong suốt thời gian khá dài từ thế kỷ thứ IV trước công nguyên đến thế kỷ thứ XVIII sau công nguyên con người vẫn còn quan niệm sai lầm về nấm Mecker (1775) cho rằng nấm là tập hợp của mô và tế bào thực vật. Michelelier là người đầu tiên đã chứng minh rằng : nấm phát triển từ các bào tử. Palisot de Beauvois đã chứng minh: nấm cũng có tổ chức, chúng có sợi, nở hoa (chín bào tử), phát sinh, phát triển và tiêu diệt [7]. Thời kỳ nấm học phát triển rực rở là cuối thế kỷ XVIII – XIX, với những công trình nổi tiếng của các tác giả : Bulliard (1791, 1813, 1815), Fries (1821, 1830, 1832, 1838), Saccardo (1888), Patouillard (1890 – 1928)[8].

Vào đầu thế kỷ XX, nấm học phát triển mạnh mẽ. Nhiều công trình nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. Đặc biệt trong 30 – 40 năm qua. Một số chi mới đã được mô tả chủ yếu dựa váo các đặc điểm hiển vi.

Kết quả là các nhà nấm học đã hình thành một hệ thống phân loại khá ổn định ở Châu Âu, Bắc Mỹ như hệ thống của Domaski (1960), Jahn (1963), Ryvarden (1976 – 1978) Gilbertson và Ryvarden (1986, 1987, 1993, 1994) [7]. Tác giả Vellinga EC. ‘Chlorophyllum and Macrolepiota (Agaricaeae) in Australia’’ ở tại Australian [7]. Bộ Agaricales xuất sứ từ chi Agaricus do Line (1753) mô tả trong công trình “Species plantarum” và ông đã xếp tất cả các nấm vào một bộ với tên là Agaricales.

Đây là một trong những bộ quan trọng và phức tạp của nấm mũ do sự đa dạng và phong phú của chúng. Chính vì vậy, nên từ trước đến nay có rất nhiều ý kiến và quan điểm của những nhà nghiên cứu nấm về bộ này như: Maire, 1933, Heim , 1934: Kũhner & Romagesie, 1953; Donk, 1960: Zerova & Waser, 1974: T. Kiệt, 1981: Michael Henning, Kreisel, 1988 và đã đưa ra hệ thống của mình. Singer là người đóng góp nhiều nhất vào hệ thống của bộ Agaricales và quan điểm của ông được nhiều nhà nấm học chấp nhận [8].

Tình hình nghiên cứu nấm độc ở Việt Nam Ở Việt Nam trước năm 1890 không có công trình nào nghiên cứu về nấm, trong khoảng gần 40 năm từ 1890 – 1928 có một vài công trình của người Pháp, chủ yếu là của Patouillard, 1890-1920. Còn các công trình của người Việt Nam mãi sau 1953 mới có. Năm 1953, người đầu tiên nghiên cứu về nấm là Phạm Hoàng Hộ, trong công trình ‘‘Cây Cỏ Việt Nam’’ ông đã mô tả vắn tắt 48 chi và 31 loài nấm lớn. Ở miền bắc Việt Nam, việc nghiên cứu nấm được bắt đầu vào năm 1954 tại Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ với các công trình tiêu biểu của Nguyễn Văn Diễn đã mô tả 28 loài nấm ăn được và 10 loài nấm độc, Trịnh Tam Kiệt với đề tài “Bước đầu điều tra bộ Aphyllophorales vùng Hà Nội” (1965) [12] và “Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính ở một số vùng miền Bắc Việt Nam” (1966) [12].

Tính đến năm 1978 đã có 618 loài thuộc 150 chi được ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các tác giả: Lê Bá Dũng (1977) “Nghiên cứu họ Polyporaceae miền Bắc Việt Nam” đã mô tả 22 loài, Lê Văn Liễu (1977) “Một số nấm ăn được và nấm độc ở rừng” với 118 loài [10]. Năm 1991, Phan Huy Dục công bố “Kết quả bước đầu điều tra bộ Agaricales Clements trên một số địa điểm thuộc đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam”, tác giả đã nêu danh lục 56 loài. Cùng năm 1991, Ngô Anh công bố công trình “Nghiên cứu nấm ở Thành Phố Huế” với 104 loài , “Dẫn liệu bước đầu về họ Coriolaceae Sing ở Thừa Thiên Huế” đã nêu danh mục 60 loài [2].

Năm 2001, Lê Bá Dũng công bố “Thành phần loài của chi Hexagonia Fr. ở vùng Tây Nguyên” [8] gồm 5 loài, trong đó Hexagonia rigida Berk. là loài mới cho khu hệ nấm Việt Nam. Hội thảo quốc tế sinh học năm 2001 tại Hà Nội có các báo cáo như: Ngô Anh với công trình “Sự đa dạng về công dụng của khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế” gồm 326 loài trong 6 nhóm nấm có ích và có hại, Phan Huy Dục báo cáo “Nấm (Macromyces) ở vườn Quốc Gia Tam Đảo Vĩnh Phúc” công bố 41 loài, 17 họ trong 2 lớpAscomycetes và Basidiomycetes [4].

Thời gian này cũng xuất hiện những công trình nghiên cứu của Trịnh Tam Kiệt và các tác giả khác đã đưa ra danh lục các loài nấm lớn của Việt Nam gồm 1250 loài (2001) đã được ghi nhận ở Việt Nam trong Danh lục các loài Thực vật Việt Nam. Gần đây, trong công trình ‘Nấm lớn ở Việt Nam’’ tập 1 (2001) [9], tập 2 (2012) [10] các loài nấm lớn ở Việt Nam đã được nâng lên đáng kể. Ở nước ta đã có một số báo cáo về thành phần loài nấm ở một số địa phương như Thừa Thiên Huế (Ngô Anh, 2003) [2]. Vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh (Trần Văn Mão, 1984), tĩnh Tây Ninh (Nguyễn Thị Đức Huệ, 2000), Vườn quốc gia Cát Tiên (Lê Xuân Thám, 2009).

Nhìn chung, tình hình nghiên cứu nấm độc ở Việt Nam thời gian đầu tuy mới chỉ thống kê và mô tả thành phần loài nhưng đến nay việc nghiên cứu nấm đã và đang được đẩy mạnh, có những bước tiến vững chắc. Việc nghiên cứu không chỉ hạn hẹp ở các khu vực thuộc các tỉnh phía Bắc và phía Nam mà còn được mở rộng trên phạm vi cả nước. Việc nghiên cứu không dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê thành phần loài mà còn nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái, sinh lí khác nhau của các loài nấm [2]. Đặc điểm thành phần độc tố một số loài nấm độc.

Có nhiều loại nấm độc mang độc tố khi mà con người chúng ta ăn vào, nó sẽ phá hủy gan, thận và gây chết sau vài ngày vì độc tố trong nó cực mạnh. Các triệu chứng thường xuất hiện khoảng 30 phút hoặc 6-12 giờ sau khi ăn tùy thuộc vào từng loại nấm nhưng có thể gây tổn hại gan và tử vong trong vòng một tuần. Có những loại nấm không gây chết người sau vài ngày nhưng độc tố tích tụ từ chúng có thể gây ung thư. Ngoài ra còn những loài ăn vào bị ngộ độc gây ra các triệu chứng như: nôn, ỉa chảy, ra mồ hôi nhiều, co giật, hạ huyết áp… sau đây là bảng về thành phần độc tố của một số loài nấm độc [21]: Bảng 1.2 Thành phần độc tố của một số loài nấm độc : Xuất hiện Triệu chứng & Độc tố Nấm Tỉ lệ triệu chứng Dấu hiệu tử vong - Amanita phaloides Amatoxin - A.

6 - 12 giờ Nôn, ỉa chảy, 60%- verna vàng, gan to, vô 80% - A. niệu, phù phổi - Galerina cấp, rối loạn ý thức Monometh - Gyromitra 6 - 12 giờ Nôn, ỉa chẩy, co yl- - Helvella giật, hôn mê, 40% hydrazine yếu cơ Allenic - Amanita smithiana 1 - 6 ngày Suy thận cấp norleucine thiểu niệu, vô niệu Orellamine - Cortiuarius 1 - 12 ngày Viêm thận ống orellanus kẽ thận Muscarine - Clitocybe dealbata 30 phút - 2 Tiết nước bọt và 5% - Inocybe giờ mồ hôi, nôn, ỉa chảy, co đồng tử Coprine - Coprinus 30 phút Nôn, ỉa chảy, Hiếm armamentarius rối loạn nhịp tim (loại giống disulfiram) Ibotenic - Amanita muscaria 30 phút-2 Giống ngộ độc acid giờ atropin: Kích thích rộp đỏ da, dãn đồng tử, chướng bụng Psilocybin Psilocybe cubensis 30 phút - 1 Ảo giác, dãn giờ đồng tử, kích thích vật vã Kích thích Nhiều loại 30 phút - 2 Nôn, ỉa chảy Hiếm dạ dày ruột giờ Qua bảng 1.2 về thành phần độc tố của một số loài nấm độc cho ta thấy có khoảng 8 nhóm chất độc ở nấm [21]: 1. Nhóm Amanitoxin: Thường gặp ở các loài thuộc chi Amanita như: Amanita phalloides, A. virosa… với các triệu chứng khi trúng độc như: Đau bụng, nôn mửa dữ dội, tiêu chảy sau 12 giờ ăn phải.

Suy thận và gan, hôn mê và thường tử vong. Nhóm Gyromitin: Gặp ở các loài nấm Gyromitra esculenta, Gyrometra infula… sau 6 - 8 giờ ăn nấm có cảm giác sưng phù, buồn nôn, tiêu chảy, chuột rút, uể oải, thiếu kiểm soát cơ, bồn chồn và trong một số trường hợp có thể chết. Nhóm Orellaine: Gặp ở một số loài nấm thuộc chi Cortinarius như: Cortinarius orellanus, C. Có triệu chứng: Rất khát nước, kèm nóng và khô môi, nhức đầu, ớn lạnh.

Đau lưng hoặc đau bụng, nôn mửa. Tổn thương thận sau 3 đến 5 ngày[21]. Nhóm Muscarine: Thường gặp ở các loài nấm thuộc chi Clitocybe và Inocybe, là những loài nấm nhỏ, trắng hoặc nâu, thường gặp trên những bãi cỏ, gây ra triệu chứng 3 chảy: Chảy mồ hôi, chảy nước mắt, chảy nước bọt. Co thắt đồng tử, bị ảo giác, co bắp thịt, tiêu chảy, tim đập chậm và tụt huyết áp[21].

Muscimol: Gặp ở các loài thuộc chi Amanita như Amanita muscaria, A.gemmata, gây triệu chứng co bắp thịt, hoa mắt, nôn mửa, hôn mê với những ảo giác chỉ sau 2 giờ ăn phải[21]. Coprine: Chỉ gặp ở Coprinus atramentarius với triệu chứng mặt và cổ nóng sốt, tay chân có cảm giác như kiến bò.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ