chương 1 đến chương 6: sáng chế và quyền tác giả; sáng chế và quyền thiết kế; sáng chế và bí mật thương mại; sáng chế và bảo vệ giống cây trồng; sáng chế và các mô hình tiện ích; sáng chế và độc quyền dữ liệu); nhóm chồng lấn giữa quyền tác giả và các quyền khác (từ chương 7 đến chương 10: quyền tác giả và nhãn hiệu; quyền tác giả và quyền hạn, quyền tác giả và cơ sở dữ liệu; quyền tài sản của quyền tác giả và quyền đạo đức); nhóm chồng lấn giữa nhãn hiệu và các quyền khác (từ chương 11 đến chương 14: nhãn hiệu đã đăng ký và nhãn hiệu chưa đăng ký; nhãn hiệu và thiết kế; nhãn hiệu và tên gọi xuất xứ; nhãn hiệu và tên miền); Chương 15-17 là nghiên cứu liên quan đến quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và nhãn hiệu; quyền công khai/ quyền riêng tư và nhãn hiệu; quyền chống 7 “How does the law handle a situation where an artistic work is protected both as a trademark and a copyright?” Xem lời nói đầu cuốn Neil Wilkof & Shamnad Basheer (2012), “Overlapping Intellectual Property Rights”, Oxford University Press. 9 cạnh tranh/ chống độc quyền và quyền SHTT). Dù mỗi tác giả nghiên cứu về một lĩnh vực khác nhau với những quan điểm có thể không đồng nhất, nhưng mỗi chương của công trình đều được nghiên cứu khá tổng thể cả về khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của sự chồng lấn đang là những vấn đề gây tranh cãi cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Đây là công trình nghiên cứu công phu chủ yếu về chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT ở Anh và Hoa Kỳ.
Phần thứ hai của công trình là các bảng tóm tắt đánh giá của 17 khu vực pháp lý ở các quốc gia tiêu biểu cho các châu lục trên thế giới như: Úc, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Israel, Nhật Bản, Mexico, Hà Lan, Russia, Singapore, Nam Phi, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, UAE về quan điểm của luật quốc gia có liên quan trên cơ sở 6 câu hỏi lớn về chồng lấn quyền SHTT: vấn đề có hay không có chồng lấn?; cách thức bảo vệ?; mức độ quyền?; thời hạn quyền?; Các vấn đề chưa được giải quyết? Đây là kết quả khảo sát và phân tích tổng hợp của các chuyên viên có kinh nghiệm ở mỗi khu vực pháp lý khác nhau đó. Mặc dù các tác giả cũng đã cố gắng đưa ra những khái quát hướng đến các nguyên tắc để áp dụng chung nhằm bảo hộ quyền SHTT trong giai đoạn hiện nay, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong vấn đề bảo hộ chồng lấn mà chưa thống nhất được nguyên tắc chung để giải quyết các vấn đề chồng lấn đó. Hơn nữa, cũng chưa có đánh giá cụ thể và toàn diện nào về vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo quy định của ĐƯQT và pháp luật quốc gia trong công trình nghiên cứu này. Thêm vào đó, công trình nghiên cứu này mới nghiên cứu chủ yếu theo pháp luật quốc gia Anh và Hoa Kỳ, chưa có đánh giá tổng thể theo quan điểm của nhiều quốc gia thuộc hệ thống pháp luật khác về vấn đề này nên vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, đối sánh.
- “Overlapping Intellectual Property Doctrines: Election of Rights versus Selection of Remedies”, (tạm dịch là: Chồng lấn giữa các cơ chế bảo hộ quyền SHTT: Chọn bảo hộ các quyền hay lựa chọn biện pháp khắc phục) của tác giả Laura A. Heymann, đăng trên tạp chí Stanford Technology Law Review Vol.8 Với bài viết này, tác giả cho rằng: sự chồng lấn tồn tại cả ở các học thuyết khác nhau trong luật SHTT liên bang. Phần mềm có thể được bảo vệ theo cả pháp luật về quyền tác giả và luật sáng chế; logo có thể được được bảo vệ theo cả pháp luật về quyền tác giả và luật nhãn hiệu. Bằng sáng chế đối với các thiết kế có thể có thể mang đến cơ 8 Laura A.
Heymann (2013), “Overlapping Intellectual Property Doctrines: Election of Rights versus Selection of Remedies”, Stanford Technology Law Review Vol. 17Xem trên website: https://scholarship.edu/facpubs/1707 ngày 19/7/2019. 10 hội bảo hộ có chồng lấn với một số đối tượng khác như: KDCN, quyền tác giả, và trong những trường hợp cụ thể có thể đăng ký bảo hộ hình ảnh thương mại nếu đủ điều kiện. Tác giả nhận định rằng: khi yêu cầu bảo hộ có chồng lấn, đó là lúc người nắm giữ quyền SHTT yêu cầu nhiều hơn một cơ chế bảo hộ quyền SHTT đối với một sáng tạo nào đó, Tòa án sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp nêu trên? Cũng theo quan điểm của tác giả, các Tòa án chỉ cần áp dụng đúng pháp luật để bảo vệ các quyền đó vì về mặt lý thuyết, các cơ chế bảo hộ được xây dựng và phát triển theo cách không loại trừ chồng lấn trong bảo hộ giữa các quyền SHTT.
Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại các Tòa án và pháp luật quốc gia dường như vẫn chưa giải quyết được triệt để vấn đề có giới hạn của chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT hay không? Trên cơ sở lý thuyết nào? để có thể bảo hộ tối ưu các quyền SHTT đang có nhiều sự thay đổi trong bối cảnh mới ngày nay. - “Intellectual Property Overlaps – A European Perspective”, (tạm dịch là: Chồng lấn quyền sở hữu trí tuệ - Bối cảnh của Liên minh Châu Âu) là công trình nghiên cứu của các tác giả Estelle Derclaye và Matthias Leistner do nhà xuất bản Hart Publishing Ltd. Với công trình này, nhóm tác giả chỉ ra rằng: Quyền SHTT, từ trước tới nay được bảo hộ theo cơ chế độc lập với những nguyên lý riêng biệt cho từng đối tượng quyền SHTT thì ngày nay lại ngày càng dễ chồng lấn với nhau. Nguyên nhân của hiện tượng chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT là việc mở rộng các quyền SHTT vượt ra khỏi biên giới truyền thống của nó, tạo ra các quyền SHTT mới, đặc biệt là ở cấp khu vực Liên Minh Châu Âu.
Khi Liên minh Châu Âu trở thành một thị trường không biên giới thì việc các luật sư khôn ngoan khai thác tính độc lập của các cơ chế bảo hộ quyền SHTT để mở rộng phạm vi bảo hộ dẫn đến hội tụ/ chồng lấn trong bảo hộ các quyền SHTT là tất yếu. Và sự hội tụ của một số quyền SHTT trên cùng một sản phẩm trí tuệ đã nảy sinh vấn đề chồng lấn quyền SHTT nói chung và chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng. Nhóm tác giả đã phân loại và xem xét một số cặp chồng lấn quyền SHTT với các nguyên tắc và quy tắc áp dụng để bảo hộ cho chúng, chủ yếu theo quan điểm của Liên minh châu Âu (EU) dưới góc nhìn so sánh. Mục đích của nhóm tác giả là tìm ra các quy tắc phù hợp để điều chỉnh sự chồng lấn tránh khỏi những xung đột giữa các chế độ bảo hộ và mở rộng bảo hộ những quyền SHTT phi truyền thống.
Từ nghiên cứu đó, nhóm tác giả cũng đề xuất các giải pháp cho các vấn đề xung đột, hạn chế và bảo vệ quá mức mà vấn đề chồng lấn gây ra. - “Intellectual Property Overlaps: Theory, Strategies, and Solutions” (tạm dịch là: Chồng lấn quyền SHTT: Lý luận, chiến lược và giải pháp) của tác giả Robert 11 Tomkowicz, do Nhà xuất bản Routledge xuất bản lần thứ nhất năm 2012. Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã nhận định rằng hiện tượng chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT là tất yếu trong bối cảnh mà khoa học công nghệ phát triển thúc đẩy xu hướng bảo hộ mở rộng và giao thoa giữa các đối tượng SHTT với nhau mặc dù chưa có nghiên cứu phân tích một cách tổng thể và thỏa đáng về nó. Còn nhiều quan điểm trái ngược về vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT ở các khu vực pháp lý khác nhau trên thế giới, vẫn chưa có một nguyên tắc chung nào áp dụng cho các trường hợp chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT.
Vì thế, tác giả cũng đã phân tích vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT trên góc nhìn của các học thuyết khác nhau để đánh giá. Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp cho việc bảo hộ quyền SHTT trong từng trường hợp. Theo đó, chồng lấn dựa trên hai nguyên tắc chủ yếu là cân bằng về lợi ích như một thang tham chiếu cho việc chấp nhận hay không sự chồng lấn trong bảo hộ các đối tượng quyền SHTT và thuyết lạm dụng quyền để hạn chế những cạnh tranh không lành mạnh trong bảo hộ quyền SHTT. Công trình nghiên cứu này có thể được coi là một cẩm nang quý giá cho các chức danh nghề luật trong việc thực thi pháp luật bảo hộ quyền SHTT.
Tuy nhiên, tác giả cũng mới đánh giá, so sánh giữa các quốc gia có hệ thống pháp luật thuộc truyền thống thông luật là chủ yếu nên chưa có cái nhìn toàn cảnh về cách thức tiếp cận cũng như quan điểm pháp lý của các truyền thống pháp luật khác về vấn đề này. - “Overprotection and Protection Overlaps in Intellectual Property Law –The Need for Horizontal Fair Use Defences”9 (tạm dịch là: Sự bảo hộ quá mức và chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT: Sự cần thiết cho các biện pháp phòng vệ sử dụng hợp lý công bằng của tác giả Martin Senftleben đăng trên báo khoa học xã hội điện tử (SSRN Electronic Journal) năm 2010. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: vấn đề bảo hộ quyền SHTT đã được mở rộng liên tục trong những thập kỷ qua. Các loại nhãn hiệu kiểu mới đã được chấp nhận bảo hộ; Luật quyền tác giả không còn giới hạn trong lĩnh vực nghệ thuật mà còn mở rộng sang lĩnh vực khoa học ứng dụng; từ đó, quyền độc quyền của chủ sở hữu quyền SHTT đã ngày càng được mở rộng.
Từ những điều chỉnh đối tượng bảo hộ nhãn hiệu trong Hiệp định TRIPS cũng như sự điều chỉnh của WIPO đối với tiêu chuẩn bảo hộ quyền tác giả đã mở ra khả năng bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu nối tiếp sau quyền tác giả cũng như các quyền SHTT khác đã hết hạn hoặc bảo hộ tích tụ đồng thời khi đáp ứng điều kiện bảo hộ theo các cơ chế khác nhau 9 Martin Senftleben (2010), “Overprotection and Protection Overlaps in Intellectual Property Law –The Need for Horizontal Fair Use Defences”, SSRN Electronic Journal, Xem trên website: https://www.net/publication/228173782 ngày 19/7/2019 12 của quyền SHTT. Tính linh hoạt được đặt ra trong các cơ chế bảo hộ quyền SHTT có thể được quy định bởi các điều khoản sử dụng hợp lý cho phép tòa án phát triển và điều chỉnh các giới hạn của quyền SHTT theo từng trường hợp cụ thể dựa trên các tiêu chí khá trừu tượng và đơn lẻ.