Vấn Đề Chồng Lấn Trong Bảo Hộ Quyền Tác Giả và Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Đối Với Nhãn Hiệu

Nội dung bài viết phân tích chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

196
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chồng Lấn Quyền Tác Giả và SHCN Nhãn Hiệu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Việt Nam đang tích cực tăng cường thực thi pháp luật về SHTT, coi đây là điều kiện tiên quyết để hợp tác kinh tế quốc tế. Sự sáng tạo không ngừng đã dẫn đến việc một đối tượng SHTT có thể đáp ứng tiêu chí của nhiều cơ chế bảo hộ, tạo ra khả năng chồng lấn giữa quyền tác giảquyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với nhãn hiệu. Các chủ thể quyền SHTT cũng tận dụng các khoảng trống pháp luật để bảo hộ đồng thời nhiều quyền SHTT cho cùng một đối tượng, làm gia tăng hiện tượng chồng lấn. Điều này dẫn đến xung đột quyền, cạnh tranh không lành mạnh và khó khăn cho cơ quan thực thi pháp luật.

1.1. Tầm Quan Trọng của Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ

Bảo hộ quyền SHTT thúc đẩy đầu tư sáng tạo, tạo ra sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao, đáp ứng nhu cầu xã hội. Quyền SHTT giúp gia tăng giá trị cốt lõi của doanh nghiệp. Chiến lược phát triển SHTT đến 2030 của Việt Nam khẳng định vai trò của chính sách SHTT trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Việc phát triển hệ thống SHTT đồng bộ, hiệu quả là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tỷ trọng tài sản SHTT của một nền kinh tế càng cao thì nền kinh tế đó càng phát triển.

1.2. Nguyên Nhân Dẫn Đến Chồng Lấn Quyền Tác Giả và SHCN

Sự "đa diện" của các đối tượng sáng tạo trí tuệ đã làm tiền đề cho sự mở rộng phạm vi bảo hộ trong cả hệ thống pháp lý quốc tế lẫn pháp luật quốc gia vô tình đã dẫn tới các khả năng bảo hộ có chồng lấn giữa các đối tượng quyền SHTT trong đó có cặp chồng lấn giữa quyền tác giảquyền SHCN đối với nhãn hiệu. Đồng thời, với mong muốn độc quyền chiếm lĩnh thị trường trong thời gian dài, các chủ thể quyền SHTT đã khéo léo vận dụng tối ưu các khoảng trống pháp luật giữa các cơ chế bảo hộ quyền SHTT để bảo hộ đồng thời nhiều quyền SHTT đối với cùng một đối tượng sáng tạo.

II. Thách Thức và Xung Đột Từ Chồng Lấn Quyền Tác Giả Nhãn Hiệu

Thực tiễn bảo hộ quyền SHTT cho thấy nhiều cặp chồng lấn tạo ra xung đột quyền ở cả phạm vi quốc gia và quốc tế. Điều này tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ cấu trúc hệ thống SHTT, thúc đẩy cạnh tranh không lành mạnh. Các vụ kiện kéo dài và tốn kém gây khó khăn cho cơ quan thực thi pháp luật. Đối tượng được bảo hộ quyền tác giảnhãn hiệu có nhiều nét tương đồng, quyền tác giả được bảo hộ tự động theo Công ước Berne, trong khi bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu không bắt buộc, làm tăng khả năng chồng lấn. Vấn đề xung đột quyền vượt ra khỏi biên giới quốc gia khi xuất hiện chồng lấn.

2.1. Nguy Cơ Phá Vỡ Cấu Trúc Hệ Thống Sở Hữu Trí Tuệ

Việc một đối tượng sáng tạo được bảo hộ ở hai hay nhiều cơ chế quyền có thể dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh. Điều này tất yếu dẫn đến những vụ khiếu kiện kéo dài và tốn kém trong việc giải quyết các xung đột, tranh chấp giữa các chủ thể quyền đồng thời cũng gây khó khăn không nhỏ cho các cơ quan thực thi pháp luật về SHTT. Thêm vào đó, điều làm nghiên cứu sinh quan tâm nhất ở cặp chồng lấn này là đối tượng được bảo hộ quyền tác giảnhãn hiệu có nhiều nét tương đồng.

2.2. Khó Khăn Trong Thực Thi và Giải Quyết Tranh Chấp

Các cơ quan thực thi pháp luật gặp khó khăn trong việc giải quyết các xung đột, tranh chấp giữa các chủ thể quyền. Sự thiếu vắng các cơ sở lý thuyết vững chắc để định hướng trong hệ thống pháp luật SHTT; thiếu vắng các công cụ để giải quyết xung đột trong tình huống có chồng lấn ở cả phạm vi trong nước và cả quốc tế. Có thể nói, việc nhận diện và xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật để hạn chế chồng lấn, giảm thiểu thiệt hại khi có chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT đang là một vấn đề khó khăn, nan giải và cấp thiết không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các hệ thống SHTT tiên tiến trên thế giới khi mà chồng lấn không chỉ phát sinh trong phạm vi quốc gia mà còn vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ quốc gia.

III. Giải Pháp Pháp Lý và Thực Tiễn Xử Lý Chồng Lấn Nhãn Hiệu

Cần nhận diện và xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật để hạn chế chồng lấn, giảm thiểu thiệt hại khi có chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT. Các quốc gia có cách tiếp cận và xử lý khác nhau dựa trên nguyên tắc pháp lý nền tảng. Sự thiếu vắng cơ sở lý thuyết vững chắc và công cụ giải quyết xung đột gây ra sự khác biệt về quan điểm và mức độ chấp nhận chồng lấn. Nghiên cứu về "Vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu" là cần thiết trong bối cảnh Việt Nam tham gia các FTA liên quan đến quyền SHTT.

3.1. Xây Dựng Tiêu Chuẩn Kỹ Thuật Hạn Chế Chồng Lấn

Việc nhận diện và xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật để hạn chế chồng lấn, giảm thiểu thiệt hại khi có chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT đang là một vấn đề khó khăn, nan giải và cấp thiết không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các hệ thống SHTT tiên tiến trên thế giới khi mà chồng lấn không chỉ phát sinh trong phạm vi quốc gia mà còn vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ quốc gia. Do đó, việc nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu về: “Vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định của điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia – Lý luận và thực tiễn” trong bối cảnh mà Việt Nam đã và đang tham gia hàng loạt các FTA có liên quan đến quyền SHTT.

3.2. Tiếp Cận và Xử Lý Xung Đột Dựa Trên Nguyên Tắc Pháp Lý

Với chính sách pháp luật và cấu trúc pháp luật khác nhau, các quốc gia có cách tiếp cận và xử lý các xung đột do chồng lấn gây ra một cách khác nhau dựa trên một số nguyên tắc pháp lý nền tảng. Mặc dù vậy, điều khiến cho các nhà nghiên cứu và các cơ quan tư pháp lúng túng dẫn đến sự khác nhau về quan điểm và mức độ chấp nhận chồng lấn ở đây một phần là do sự thiếu vắng các cơ sở lý thuyết vững chắc để định hướng trong hệ thống pháp luật SHTT; thiếu vắng các công cụ để giải quyết xung đột trong tình huống có chồng lấn ở cả phạm vi trong nước và cả quốc tế.

IV. Nghiên Cứu Thực Tiễn và Đề Xuất Giải Pháp Cho Việt Nam

Luận án cần làm sáng tỏ lý luận về chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giảquyền SHCN đối với nhãn hiệu. Đánh giá khả năng chồng lấn và hệ lụy của nó trên phạm vi quốc tế và quốc gia, đặc biệt tại Việt Nam. Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm xử lý hiệu quả vấn đề chồng lấn, giảm thiểu thiệt hại cho chủ sở hữu quyền, duy trì trật tự và thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ xã hội. Nghiên cứu thực tiễn giải quyết chồng lấn ở một số quốc gia điển hình để tìm hiểu về khả năng chồng lấn, cách thức tiếp cận và cơ sở lý luận khi chấp nhận chồng lấn.

4.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu và Đánh Giá Khả Năng Chồng Lấn

Luận án làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Từ quy định của một số ĐƯQT, pháp luật một số quốc gia và pháp luật Việt Nam, nghiên cứu sinh đánh giá về khả năng chồng lấn và những hệ lụy của chồng lấn trên phạm vi quốc tế và quốc gia, đặc biệt là tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích, bình luận, đánh giá các quy định của pháp luật và thực tiễn, nghiên cứu sinh đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm xử lý hiệu quả vấn đề chồng lấn trong bảo hộ giữa quyền tác giảquyền SHCN đối với nhãn hiệu.

4.2. Đề Xuất Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Sở Hữu Trí Tuệ

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, luận án sẽ đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam về bảo hộ quyền tác giảquyền SHCN đối với nhãn hiệu nhằm giảm thiểu chồng lấn, đề xuất phương thức giải quyết xung đột khi có chồng lấn. Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu từ các quy định của ĐƯQT, pháp luật của một số quốc gia và Việt Nam.

V. Thực Trạng Pháp Luật Việt Nam và Cam Kết Quốc Tế

Pháp luật SHTT Việt Nam đã tương thích với yêu cầu bảo hộ tối thiểu theo pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện để giải quyết các vấn đề phức tạp do chồng lấn phát sinh. Nghiên cứu thực tiễn chồng lấn trong bảo hộ giữa quyền tác giảnhãn hiệu ở Việt Nam qua các vụ việc thực tiễn nhằm làm rõ những đòi hỏi thực tiễn, những vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề liên quan tới chồng lấn. Cần nghiên cứu các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến quyền SHTT.

5.1. Đánh Giá Tính Tương Thích của Pháp Luật Việt Nam

Ở thời điểm gia nhập WTO, hệ thống pháp luật về SHTT của Việt Nam được đánh giá là đã khá tương thích với những yêu cầu bảo hộ tối thiểu các đối tượng SHTT theo pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu, với những thay đổi chóng mặt cả về mặt khoa học công nghệ cũng như nhận thức của con người về thế giới quan trong thời đại công nghệ số thì việc mở rộng phạm vi bảo hộ các quyền SHTT cũng là một tất yếu khách quan.

5.2. Nghiên Cứu Cam Kết Quốc Tế và Khả Năng Chồng Lấn

Việc nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu về: “Vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định của điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia – Lý luận và thực tiễn” trong bối cảnh mà Việt Nam đã và đang tham gia hàng loạt các FTA có liên quan đến quyền SHTT như: Hiệp định thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA); Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)…làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình là thực sự cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

VI. Phương Hướng và Giải Pháp Xử Lý Chồng Lấn Quyền Nhãn Hiệu

Cần xác định phương hướng xử lý chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giảquyền SHCN đối với nhãn hiệu. Đề xuất các giải pháp cụ thể để giảm thiểu chồng lấn và giải quyết xung đột khi có chồng lấn. Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong việc xử lý chồng lấn để áp dụng vào điều kiện Việt Nam. Cần có sự cân bằng lợi ích giữa các chủ thể quyền để đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống SHTT.

6.1. Xác Định Phương Hướng Xử Lý Chồng Lấn

Đồng thời, Luận án nghiên cứu thực tiễn chồng lấn trong bảo hộ giữa quyền tác giảnhãn hiệu ở Việt Nam qua một số vụ việc thực tiễn nhằm làm rõ những đòi hỏi thực tiễn, những vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề liên quan tới chồng lấn. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, luận án sẽ đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam về bảo hộ quyền tác giảquyền SHCN đối với nhãn hiệu nhằm giảm thiểu chồng lấn, đề xuất phương thức giải quyết xung đột khi có chồng lấn.

6.2. Đề Xuất Giải Pháp Cụ Thể và Kinh Nghiệm Quốc Tế

Luận án nghiên cứu thực tiễn giải quyết chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giảnhãn hiệu ở một số quốc gia điển hình để tìm hiểu về khả năng chồng lấn, cách thức tiếp cận và cơ sở lý luận khi chấp nhận chồng lấn ở một số quốc gia để có cái nhìn bao quát về chồng lấn trên phạm vi quốc tế. Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Một số lý thuyết nền tảng trong bảo hộ quyền tác giảquyền SHCN đối với nhãn hiệu.

05/06/2025
Ấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định của điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia lý luận và thực tiễn

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 đến chương 6: sáng chế và quyền tác giả; sáng chế và quyền thiết kế; sáng chế và bí mật thương mại; sáng chế và bảo vệ giống cây trồng; sáng chế và các mô hình tiện ích; sáng chế và độc quyền dữ liệu); nhóm chồng lấn giữa quyền tác giả và các quyền khác (từ chương 7 đến chương 10: quyền tác giả và nhãn hiệu; quyền tác giả và quyền hạn, quyền tác giả và cơ sở dữ liệu; quyền tài sản của quyền tác giả và quyền đạo đức); nhóm chồng lấn giữa nhãn hiệu và các quyền khác (từ chương 11 đến chương 14: nhãn hiệu đã đăng ký và nhãn hiệu chưa đăng ký; nhãn hiệu và thiết kế; nhãn hiệu và tên gọi xuất xứ; nhãn hiệu và tên miền); Chương 15-17 là nghiên cứu liên quan đến quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và nhãn hiệu; quyền công khai/ quyền riêng tư và nhãn hiệu; quyền chống 7 “How does the law handle a situation where an artistic work is protected both as a trademark and a copyright?” Xem lời nói đầu cuốn Neil Wilkof & Shamnad Basheer (2012), “Overlapping Intellectual Property Rights”, Oxford University Press. 9 cạnh tranh/ chống độc quyền và quyền SHTT). Dù mỗi tác giả nghiên cứu về một lĩnh vực khác nhau với những quan điểm có thể không đồng nhất, nhưng mỗi chương của công trình đều được nghiên cứu khá tổng thể cả về khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của sự chồng lấn đang là những vấn đề gây tranh cãi cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Đây là công trình nghiên cứu công phu chủ yếu về chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT ở Anh và Hoa Kỳ.

Phần thứ hai của công trình là các bảng tóm tắt đánh giá của 17 khu vực pháp lý ở các quốc gia tiêu biểu cho các châu lục trên thế giới như: Úc, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Israel, Nhật Bản, Mexico, Hà Lan, Russia, Singapore, Nam Phi, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, UAE về quan điểm của luật quốc gia có liên quan trên cơ sở 6 câu hỏi lớn về chồng lấn quyền SHTT: vấn đề có hay không có chồng lấn?; cách thức bảo vệ?; mức độ quyền?; thời hạn quyền?; Các vấn đề chưa được giải quyết? Đây là kết quả khảo sát và phân tích tổng hợp của các chuyên viên có kinh nghiệm ở mỗi khu vực pháp lý khác nhau đó. Mặc dù các tác giả cũng đã cố gắng đưa ra những khái quát hướng đến các nguyên tắc để áp dụng chung nhằm bảo hộ quyền SHTT trong giai đoạn hiện nay, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong vấn đề bảo hộ chồng lấn mà chưa thống nhất được nguyên tắc chung để giải quyết các vấn đề chồng lấn đó. Hơn nữa, cũng chưa có đánh giá cụ thể và toàn diện nào về vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả và quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo quy định của ĐƯQT và pháp luật quốc gia trong công trình nghiên cứu này. Thêm vào đó, công trình nghiên cứu này mới nghiên cứu chủ yếu theo pháp luật quốc gia Anh và Hoa Kỳ, chưa có đánh giá tổng thể theo quan điểm của nhiều quốc gia thuộc hệ thống pháp luật khác về vấn đề này nên vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, đối sánh.

- “Overlapping Intellectual Property Doctrines: Election of Rights versus Selection of Remedies”, (tạm dịch là: Chồng lấn giữa các cơ chế bảo hộ quyền SHTT: Chọn bảo hộ các quyền hay lựa chọn biện pháp khắc phục) của tác giả Laura A. Heymann, đăng trên tạp chí Stanford Technology Law Review Vol.8 Với bài viết này, tác giả cho rằng: sự chồng lấn tồn tại cả ở các học thuyết khác nhau trong luật SHTT liên bang. Phần mềm có thể được bảo vệ theo cả pháp luật về quyền tác giả và luật sáng chế; logo có thể được được bảo vệ theo cả pháp luật về quyền tác giả và luật nhãn hiệu. Bằng sáng chế đối với các thiết kế có thể có thể mang đến cơ 8 Laura A.

Heymann (2013), “Overlapping Intellectual Property Doctrines: Election of Rights versus Selection of Remedies”, Stanford Technology Law Review Vol. 17Xem trên website: https://scholarship.edu/facpubs/1707 ngày 19/7/2019. 10 hội bảo hộ có chồng lấn với một số đối tượng khác như: KDCN, quyền tác giả, và trong những trường hợp cụ thể có thể đăng ký bảo hộ hình ảnh thương mại nếu đủ điều kiện. Tác giả nhận định rằng: khi yêu cầu bảo hộ có chồng lấn, đó là lúc người nắm giữ quyền SHTT yêu cầu nhiều hơn một cơ chế bảo hộ quyền SHTT đối với một sáng tạo nào đó, Tòa án sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp nêu trên? Cũng theo quan điểm của tác giả, các Tòa án chỉ cần áp dụng đúng pháp luật để bảo vệ các quyền đó vì về mặt lý thuyết, các cơ chế bảo hộ được xây dựng và phát triển theo cách không loại trừ chồng lấn trong bảo hộ giữa các quyền SHTT.

Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại các Tòa án và pháp luật quốc gia dường như vẫn chưa giải quyết được triệt để vấn đề có giới hạn của chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT hay không? Trên cơ sở lý thuyết nào? để có thể bảo hộ tối ưu các quyền SHTT đang có nhiều sự thay đổi trong bối cảnh mới ngày nay. - “Intellectual Property Overlaps – A European Perspective”, (tạm dịch là: Chồng lấn quyền sở hữu trí tuệ - Bối cảnh của Liên minh Châu Âu) là công trình nghiên cứu của các tác giả Estelle Derclaye và Matthias Leistner do nhà xuất bản Hart Publishing Ltd. Với công trình này, nhóm tác giả chỉ ra rằng: Quyền SHTT, từ trước tới nay được bảo hộ theo cơ chế độc lập với những nguyên lý riêng biệt cho từng đối tượng quyền SHTT thì ngày nay lại ngày càng dễ chồng lấn với nhau. Nguyên nhân của hiện tượng chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT là việc mở rộng các quyền SHTT vượt ra khỏi biên giới truyền thống của nó, tạo ra các quyền SHTT mới, đặc biệt là ở cấp khu vực Liên Minh Châu Âu.

Khi Liên minh Châu Âu trở thành một thị trường không biên giới thì việc các luật sư khôn ngoan khai thác tính độc lập của các cơ chế bảo hộ quyền SHTT để mở rộng phạm vi bảo hộ dẫn đến hội tụ/ chồng lấn trong bảo hộ các quyền SHTT là tất yếu. Và sự hội tụ của một số quyền SHTT trên cùng một sản phẩm trí tuệ đã nảy sinh vấn đề chồng lấn quyền SHTT nói chung và chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng. Nhóm tác giả đã phân loại và xem xét một số cặp chồng lấn quyền SHTT với các nguyên tắc và quy tắc áp dụng để bảo hộ cho chúng, chủ yếu theo quan điểm của Liên minh châu Âu (EU) dưới góc nhìn so sánh. Mục đích của nhóm tác giả là tìm ra các quy tắc phù hợp để điều chỉnh sự chồng lấn tránh khỏi những xung đột giữa các chế độ bảo hộ và mở rộng bảo hộ những quyền SHTT phi truyền thống.

Từ nghiên cứu đó, nhóm tác giả cũng đề xuất các giải pháp cho các vấn đề xung đột, hạn chế và bảo vệ quá mức mà vấn đề chồng lấn gây ra. - “Intellectual Property Overlaps: Theory, Strategies, and Solutions” (tạm dịch là: Chồng lấn quyền SHTT: Lý luận, chiến lược và giải pháp) của tác giả Robert 11 Tomkowicz, do Nhà xuất bản Routledge xuất bản lần thứ nhất năm 2012. Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã nhận định rằng hiện tượng chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT là tất yếu trong bối cảnh mà khoa học công nghệ phát triển thúc đẩy xu hướng bảo hộ mở rộng và giao thoa giữa các đối tượng SHTT với nhau mặc dù chưa có nghiên cứu phân tích một cách tổng thể và thỏa đáng về nó. Còn nhiều quan điểm trái ngược về vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT ở các khu vực pháp lý khác nhau trên thế giới, vẫn chưa có một nguyên tắc chung nào áp dụng cho các trường hợp chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT.

Vì thế, tác giả cũng đã phân tích vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT trên góc nhìn của các học thuyết khác nhau để đánh giá. Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp cho việc bảo hộ quyền SHTT trong từng trường hợp. Theo đó, chồng lấn dựa trên hai nguyên tắc chủ yếu là cân bằng về lợi ích như một thang tham chiếu cho việc chấp nhận hay không sự chồng lấn trong bảo hộ các đối tượng quyền SHTT và thuyết lạm dụng quyền để hạn chế những cạnh tranh không lành mạnh trong bảo hộ quyền SHTT. Công trình nghiên cứu này có thể được coi là một cẩm nang quý giá cho các chức danh nghề luật trong việc thực thi pháp luật bảo hộ quyền SHTT.

Tuy nhiên, tác giả cũng mới đánh giá, so sánh giữa các quốc gia có hệ thống pháp luật thuộc truyền thống thông luật là chủ yếu nên chưa có cái nhìn toàn cảnh về cách thức tiếp cận cũng như quan điểm pháp lý của các truyền thống pháp luật khác về vấn đề này. - “Overprotection and Protection Overlaps in Intellectual Property Law –The Need for Horizontal Fair Use Defences”9 (tạm dịch là: Sự bảo hộ quá mức và chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT: Sự cần thiết cho các biện pháp phòng vệ sử dụng hợp lý công bằng của tác giả Martin Senftleben đăng trên báo khoa học xã hội điện tử (SSRN Electronic Journal) năm 2010. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: vấn đề bảo hộ quyền SHTT đã được mở rộng liên tục trong những thập kỷ qua. Các loại nhãn hiệu kiểu mới đã được chấp nhận bảo hộ; Luật quyền tác giả không còn giới hạn trong lĩnh vực nghệ thuật mà còn mở rộng sang lĩnh vực khoa học ứng dụng; từ đó, quyền độc quyền của chủ sở hữu quyền SHTT đã ngày càng được mở rộng.

Từ những điều chỉnh đối tượng bảo hộ nhãn hiệu trong Hiệp định TRIPS cũng như sự điều chỉnh của WIPO đối với tiêu chuẩn bảo hộ quyền tác giả đã mở ra khả năng bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu nối tiếp sau quyền tác giả cũng như các quyền SHTT khác đã hết hạn hoặc bảo hộ tích tụ đồng thời khi đáp ứng điều kiện bảo hộ theo các cơ chế khác nhau 9 Martin Senftleben (2010), “Overprotection and Protection Overlaps in Intellectual Property Law –The Need for Horizontal Fair Use Defences”, SSRN Electronic Journal, Xem trên website: https://www.net/publication/228173782 ngày 19/7/2019 12 của quyền SHTT. Tính linh hoạt được đặt ra trong các cơ chế bảo hộ quyền SHTT có thể được quy định bởi các điều khoản sử dụng hợp lý cho phép tòa án phát triển và điều chỉnh các giới hạn của quyền SHTT theo từng trường hợp cụ thể dựa trên các tiêu chí khá trừu tượng và đơn lẻ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề "Vấn Đề Chồng Lấn Trong Bảo Hộ Quyền Tác Giả và Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Đối Với Nhãn Hiệu" khám phá những thách thức và vấn đề phát sinh khi có sự chồng chéo giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực nhãn hiệu. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà các quy định pháp luật hiện hành có thể ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi của các tác giả và chủ sở hữu nhãn hiệu, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về những rủi ro và cơ hội trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn thạc sĩ luật học thế chấp quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật các nước trên thế giới và định hướng cho việt nam", nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quyền sở hữu công nghiệp và các vấn đề liên quan đến thế chấp. Bên cạnh đó, tài liệu "Khóa luận tốt nghiệp bồi thường thiệt hại trong vụ án xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp bồi thường khi quyền sở hữu công nghiệp bị xâm phạm. Cuối cùng, tài liệu "Pháp luật việt nam về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp" sẽ cung cấp thông tin chi tiết về quy trình chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm bắt được các khía cạnh pháp lý mà còn mở ra cơ hội để bạn tìm hiểu sâu hơn về quyền sở hữu trí tuệ và các vấn đề liên quan.