Chương 1: Cơ sở lý luận về xác định mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính Chương 2: Thực trạng xác định mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán - Thâm định gia va Tu van ECOVIS AFA VIỆT NAM Chương 3: Giải pháp hoàn thiện xác định mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán — Thâm định giá và Tư vấn ECOVIS AFA VIỆT NAM. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH MỨC TRỌNG YÊU TRONG KIEM TOAN BAO CÁO TÀI CHÍNH 1. Giới thiệu chung về kiểm toán báo cáo tài chính 1. Khái niệm về kiểm toán báo cáo tài chính.
Theo tác giả Alvin A.Aen và James K.Loebbecker trong giáo trình “Kiểm toán” đã đưa ra định nghĩa chung về kiểm toán rằng: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể, nhằm xác nhận và đưa ra ý kiến về mức đô phù hợp của các thông tin này so với các chuẩn mực. đã được thiết lập”. Theo định nghĩa của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về BCTC” Theo luật Kiểm toán độc lập số 67/201 1/QH12 do Quốc hội khóa 12 ban hành ngày 29/03/2011, *Kiểm toán báo cáo tải chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chỉ nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước. ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía ạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán”.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200, Mục đích của kiểm toán BCTC là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với BCTC, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không. Đối với hầu hết các khuôn khô vẻ lập và trình bày BCTC cho mục đích chung, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không. Một cuộc kiểm toán được thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan sẽ giúp kiểm toán viên hình thành ý kiến kiểm toán đó. Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính 'Theo hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) hướng dẫn, quy trình của một cuộc kiểm toán được chia thành 03 giai đoạn: kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiêm toán và cuối cùng là tổng hợp, kết luận và lập báo cáo.
Lép kế hoạch kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà KTV cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cần thiết cũng như thu thập thông tin cho một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính. Giai đoạn này được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các KTV phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành có hiệu quả và chất lượng. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV thực hiện thu thập thông tin tổng quan như ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, KTV còn thực hiện đánh giá sơ bộ ban đầu về rủi ro của hợp đồng kiểm toán thông qua các yếu tố nghành nghẻ, mức độ quan tâm của công chúng, mức độ chính trực của Ban lãnh đạo, trình ông nghệ và đặc thù nguồn nhân lực của công ty kiêm toán.
Sau khi đạt được các thông tin cần thiết, KTV tiếp tục thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ nhằm phát hiện ra rủi ro có sai sót trọng yếu tiềm tàng do gian lận hoặc nhằm lẫn. Thủ tục này có thể giúp KTV xác định sự tồn tại của các giao dịch, sự kiện bắt thường, các số liệu, tỷ trọng và xu hướng có thể là dấu hiệu của các vấn đề có ảnh hưởng đến cuộc kiểm toán. Trên cơ sở những hiêu biết thu thập về doanh nghiệp, KTV đánh giá mức rủi ro tổng quan của cuộc kiểm toán và xác định mức trọng yếu tổng thể của BCTC và các mức trọng yếu liên quan. Cuối cùng, KTV tiến hành xây dựng chương trình kiểm toán cụ thé cho từng phần hành kiểm toán đề phục vụ cho giai đoạn thực hiện kiểm toán tiếp theo.
Các thành viên đoàn mm toán phải tuân theo chương trình kiểm toán đã được xây dựng và chỉ thay đổi trong các trường hợp nhất định Tóm lại, giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán bao gồm sáu phần chính là chuẩn bị kế hoạch, thu thập thông tin cơ bản về khách hàng, thu thập thông tin ác nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, đánh giá tính trọng yếu và rủi ro, tìm hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát và việc khai triển kế hoạch kiểm toán toàn bộ và chương trình kiểm toán. Mỗi phần trong năm phần đầu nhằm mục đích giúp KTV khai triển phần cuối cùng, một kế hoạch kiểm toán toàn bộ, một chương trình kiểm toán hiệu quả và hiệu lực. Thực hiện kiểm toán Giai đoạn thực hiện kiểm toán bao gồm các bước sau: ~ Thực hiện thử nghiệm kiểm soát ~_ Thực hiện thủ tục chung (số dư đầu kỳ, hỗ sơ pháp lý. ) ~_ Kiểm tra cơ bản bảng cân đối kế toán ~_ Kiểm tra cơ bản báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
~_ Kiểm tra các nội dung khác ~_ Đánh giá lại mức trọng yếu, rủi ro và thủ tục kiểm toán Trong quá trình kiểm toán, KTV sẽ thực hiện thông qua hai phương pháp. là thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản. 10 Mục đích của thử nghiệm kiểm soát là thu thập đầy đủ bằng chứng kiêm toán thích hợp về tính hữu hiệu của hoạt động kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán. Các thử nghiệm kiểm soát này chỉ được thực hiện đối với những kiểm soát mà kiểm toán viên xác định rằng được thiết kế phù hợp để ngăn chặn hoặc phát hiện và sửa chữa một sai sót trọng yếu trong một cơ sở.
Đối với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, KTV thường bỏ qua thủ tục kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ và tiến hành thử nghiệm cơ bản. Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, KTV áp dụng kỳ thuật chọn mẫu để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Vì các kết quả của các khảo sát về nghiệp vụ là yếu tố quyết định chủ yếu phạm vi các cuộc khảo sát chỉ tiết số dư, chúng thường được thực hiện trước ngày lập bảng cân đối tai sản từ hai hoặc ba tháng. Điều này giúp cho KTV lập kế hoạch cho những điều ngoài ý muốn, xem xét lại chương trình kiểm toán cho những kết quả ngoài dự kiến và hoàn tất cuộc kiểm toán càng sớm sau ngày lập bảng cân đối tài sản càng tốt.
Mục đích của thử nghiệm cơ bản để thu thập đầy đủ các bằng chứng về các số liệu và thuyết minh trên báo cáo tải chính dé làm cơ sở đưa ra các ý kiến nhận xét về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động của khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả tối đa của kiểm toán. Thử nghiệm cơ bản bao. gồm các thủ tục phân tích và các cuộc khảo sát chỉ tiết số dư. Thủ tục phân tích nhằm đánh giá tính hợp lý chung của các nghiệp vụ và số dư.
Các cuộc khảo sát chỉ tiết về số dư nhằm mục đích khảo sát đối với những sai sót tiền tệ trong các số dư trên BCTC. KTV thường kiểm tra chỉ tiết từng khoản mục trên BCTC đề đảm bảo không có sai sót trọng yếu xảy ra. KTV áp dụng ky thuật chọn mẫu thống kê hoặc phi thống kê để đánh giá từng khoản mục trên BCTC có được trình bày hợp lý hay không. e Tổng hợp, kết luận và lập báo cáo Sau khi KTV hoàn thành công việc tại hai giai đoạn trên, KTV tiến hành chuyên sang giai đoạn tông hợp kết quả kiểm toán và phát hành báo cáo kiêm toán.
Nội dung ở giai đoạn này chủ yếu gồm: Xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ BCTC: các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán là những sự kiện có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến báo cáo tài chính đã phát sinh trong khoản thời gian từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến ngày phát hành báo cáo tài chính. Xem xét công nợ tiềm tàng: KTV xem xét các khoản nợ tiềm tàng có khả năng phát sinh làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, ví dụ như các khoản nghĩa vụ bồi thường có thể phát sinh liên quan đến một vụ kiện của công ty. Đánh giá các kết quả: KTV phải đánh giá các kết quả của cuộc kiểm toán và quyết định xem bằng chứng đã thu thập đầy đủ hay chưa. Các tư liệu được xem xét lại bởi những người có nhiều kinh nghiệm hơn người thực hiện ban đầu để phát hiện những sai sót và đánh giá những lời bình và kết luận của.
người kia. Quá trình xem xét lại sự đúng đắn của các tư liệu là cách chủ yếu. để đảm bảo việc thực hiện có chất lượng và sự phán xét độc lập của toàn bộ. nhóm kiểm toán.
Công bố báo cáo kiểm toán: căn cứ vào bằng chứng kiểm toán thu thập được và các phát hiện trong quá trình kiểm toán, KTV tổng hợp, đánh giá kết quả và xác định loại báo cáo kiểm toán phù hợp, lập và phát hành báo cáo kiểm toán. Tầm quan trọng của công tác xác định mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính 1. Định nghĩa về mức trọng yếu Trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01 - Chuẩn mực chung) có đưa ra khái niệm về mức trọng yếu như sau “Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc.
vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.