Tổng quan nghiên cứu

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước, được cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW và hệ thống văn bản chỉ đạo xuyên suốt hơn một thập kỷ. Tại thành phố Cần Thơ, sau 5 năm triển khai, diện mạo nông thôn đã có nhiều khởi sắc vượt bậc. Tính đến tháng 8 năm 2015, toàn thành phố đã có 7 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 19 xã đạt từ 15 đến 19 tiêu chí và 10 xã đạt từ 12 đến 14 tiêu chí. Riêng tại huyện Cờ Đỏ, nguồn vốn huy động cho xây dựng nông thôn mới trong năm 2014 đạt 385,004 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chiếm 41,3% (158,950 tỷ đồng), vốn doanh nghiệp chiếm 4,8% (18,349 tỷ đồng) và nguồn vốn do nhân dân trực tiếp đóng góp là 14,781 tỷ đồng, chiếm 3,8%. Thu nhập bình quân đầu người tại huyện năm 2013 đạt 27,46 triệu đồng/người/năm, tăng 7,96 triệu đồng so với năm 2010, kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5,76% vào năm 2014.

Tuy nhiên, tiến trình hoàn thành 20 tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới tại các xã thuộc huyện Cờ Đỏ vẫn còn khoảng cách chênh lệch khá lớn và đối mặt với nhiều thách thức về tính bền vững. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để phát huy tối đa vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư, biến người dân từ vị thế thụ hưởng thụ động sang chủ động tham gia đóng góp nguồn lực, hiến đất làm đường và giám sát công trình.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích thực trạng tham gia, đánh giá mức độ sẵn lòng và lượng hóa các yếu tố tác động đến sự tham gia của người dân tại 4 xã đại diện gồm Trung An, Thới Đông, Trung Hưng và Thạnh Phú. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng giúp chính quyền địa phương hoàn thiện các chính sách phát triển kinh tế xã hội nông thôn đồng bộ và hiệu quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng và lý thuyết về thang bậc tham gia của người dân. Theo quan điểm hiện đại của các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học, phát triển nông thôn là một quá trình đa chiều bao gồm bốn trụ cột: chính trị thể chế, văn hóa xã hội, kinh tế và môi trường sinh thái. Trong đó, phát triển kinh tế nông nghiệp đóng vai trò tạo động lực nền tảng, còn cộng đồng dân cư giữ vị trí trung tâm vừa là chủ thể hành động vừa là đối tượng thụ hưởng trực tiếp.

Về mặt đo lường sự tham gia, nghiên cứu kế thừa mô hình 8 bậc thang tham gia của Trương Văn Tuyển (2007) và tinh chỉnh thành thang đo 5 cấp độ phù hợp với bối cảnh thực địa: từ mức độ 1 (không tham gia hoặc tham gia thụ động), mức độ 2 (cung cấp thông tin), mức độ 3 (tham gia vì động lực vật chất, chia sẻ ngày công và tiền của), mức độ 4 (tham gia phân tích và ra quyết định), đến mức độ 5 (tự chủ hoạt động). Đồng thời, lý thuyết đo lường chất lượng cảm nhận SERVPERF của Cronin và Taylor (1992) được vận dụng để thiết kế hệ thống 59 biến quan sát phản ánh nhận thức của người dân đối với 20 tiêu chí xây dựng nông thôn mới của thành phố Cần Thơ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định tính và định lượng, sử dụng cả nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn năm 2011 đến năm 2015:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo tổng kết, nghị quyết, đề án quy hoạch nông thôn mới của Ủy ban nhân dân huyện Cờ Đỏ và Ủy ban nhân dân các xã khảo sát.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bảng hỏi chi tiết với cỡ mẫu gồm 120 chủ hộ gia đình và cán bộ cơ sở tại 4 xã (Trung An, Thới Đông, Trung Hưng, Thạnh Phú), chiếm tỷ lệ 11,1% tổng số xã nông thôn mới của thành phố Cần Thơ. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích bảo đảm tính đại diện cao khi bao gồm cả xã đạt chuẩn tối đa 20/20 tiêu chí (xã Trung An) lẫn xã có kết quả thấp nhất với 12/20 tiêu chí (xã Thạnh Phú).
  • Phương pháp phân tích: Thống kê mô tả được dùng để phân tích tần số, tỷ lệ, giá trị trung bình về đặc điểm nhân khẩu và nguồn lực của hộ. Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach's Alpha được thực hiện để sàng lọc các thang đo có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và độ tin cậy từ 0,6 trở lên. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với điều kiện hệ số KMO đạt từ 0,5 đến 1,0, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), hệ số tải nhân tố từ 0,5 trở lên và tổng phương sai trích đạt trên 50% giúp cô đọng 59 biến quan sát thành các nhóm nhân tố cốt lõi. Cuối cùng, mô hình hồi quy tuyến tính bội OLS được áp dụng để xác định chính xác mức độ tác động biên của từng nhóm nhân tố đến biến phụ thuộc là mức độ tham gia của cộng đồng. Việc lựa chọn EFA kết hợp OLS cho phép xử lý tối ưu các biến đo lường hành vi phức tạp trong quản lý kinh tế học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực tế 120 hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu mang lại những phát hiện quan trọng:

  • Đặc điểm nhân khẩu học và học vấn: Phần lớn chủ hộ có độ tuổi từ 46 đến 60 tuổi, chiếm 45,8%, nhóm trên 60 tuổi chiếm 26,7% và nhóm từ 31 đến 45 tuổi chiếm 25,0%. Về trình độ học vấn, có tới 71,7% chủ hộ có trình độ dưới cấp 2 (trong đó bậc tiểu học chiếm 57,5% và mù chữ chiếm 14,2%), chỉ có 8,3% đạt trình độ từ cấp 3 trở lên. Cơ cấu tôn giáo ghi nhận 45,8% hộ theo đạo Phật giáo Hòa Hảo, 20,8% theo Phật giáo, 4,2% theo đạo Cao Đài và 28,4% không theo tôn giáo.
  • Nguồn lực sinh kế và nghề nghiệp: Có 82,5% số hộ tham gia sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (gồm 63,3% tự canh tác và 19,2% làm thuê nông nghiệp), các ngành buôn bán nhỏ chiếm 8,3% và cán bộ công chức chỉ chiếm 1,7%. Tỷ lệ hộ sở hữu đất ở đạt 87,5%, tỷ lệ hộ có đất ruộng sản xuất lúa đạt 66,7% với quy mô diện tích đất canh tác bình quân là 2,434 ha/hộ. Quy mô gia đình phổ biến từ 2 đến 4 thành viên, chiếm 69,17% tổng số hộ khảo sát.
  • Cơ cấu tham gia và đóng góp: Trong tổng số 14,781 tỷ đồng nhân dân đóng góp năm 2014, nguồn lực tập trung chủ yếu vào đối ứng xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn với 14,155 tỷ đồng (chiếm 95,8% tổng vốn dân góp), thủy lợi nội đồng là 506 triệu đồng và đối ứng nhà đại đoàn kết là 120 triệu đồng.
  • Sự phân hóa tiến độ giữa các địa phương: Tính đến tháng 6 năm 2015, xã Trung An duy trì hoàn thành 20/20 tiêu chí với tỷ lệ huy động vốn đóng góp từ cộng đồng đạt 23,2% (504,26 triệu đồng trong 6 tháng đầu năm). Ngược lại, xã Thới Đông và xã Trung Hưng đều đạt 16/20 tiêu chí, còn xã Thạnh Phú mới chỉ đạt 12/20 tiêu chí, gặp vướng mắc lớn ở các tiêu chí giao thông nội đồng, trường học, cơ sở vật chất văn hóa và y tế.

Thảo luận kết quả

Thông qua việc biểu diễn số liệu trên các bảng phân phối tần số và mô hình đường hồi quy OLS, nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ tham gia của người dân huyện Cờ Đỏ chịu tác động mạnh mẽ bởi sự tương tác giữa các nhóm nhân tố: điều kiện thu nhập, cơ sở hạ tầng, tiện ích công cộng, môi trường sống, sự gắn kết cộng đồng và hiệu quả điều hành của chính quyền địa phương.

Thực tế khảo sát phản ánh tính chất tham gia của người dân hiện nay phần lớn vẫn dừng lại ở mức độ 2 và mức độ 3 trên thang đo – tức là tham gia khi có thông báo, đóng góp kinh phí hoặc ngày công khi được chính quyền vận động trực tiếp đối với các công trình có lợi ích sát sườn như đường liên ấp, cầu nông thôn. Mức độ tham gia ở bậc cao hơn như tham gia lập quy hoạch, chủ động giám sát chất lượng thi công hoặc tự khởi xướng đề án còn rất hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc 71,7% chủ hộ có trình độ học vấn thấp nên khả năng tiếp cận thông tin chính sách, đọc hiểu bản vẽ quy hoạch và năng lực phản biện cộng đồng còn rào cản.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, kết quả tại huyện Cờ Đỏ hoàn toàn tương đồng với các phát hiện về sự thiếu hụt vốn xã hội và kỹ năng quản lý cộng đồng. Điểm sáng nổi bật tại địa phương là việc phát huy tốt mạng lưới tôn giáo (với 45,8% tín đồ Hòa Hảo có truyền thống làm việc thiện, sửa cầu đường và tương trợ hộ nghèo), tạo nên động lực nội sinh to lớn hỗ trợ ngân sách nhà nước hoàn thiện các tiêu chí hạ tầng thiết yếu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao tính tham gia của cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Cờ Đỏ:

  • Thứ nhất, đổi mới và đa dạng hóa hình thức truyền thông chính sách: Ủy ban nhân dân các xã và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện cần chủ trì triển khai các chương trình tuyên truyền trực quan, dễ hiểu qua hệ thống đài truyền thanh ấp, tờ rơi hình ảnh và các buổi sinh hoạt tổ tự quản. Mục tiêu là nâng tỷ lệ người dân hiểu sâu về quyền lợi, nghĩa vụ trong 20 tiêu chí nông thôn mới từ mức 70% hiện tại lên trên 90% vào cuối năm 2018, bảo đảm nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng.
  • Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo nghề nông nghiệp kỹ thuật cao và mở rộng liên kết chuỗi: Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Cờ Đỏ phối hợp cùng các Hợp tác xã nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn từ quy mô 30.000 ha hiện tại lên 45.000 ha trong giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu nâng thu nhập bình quân đầu người từ 27,46 triệu đồng lên trên 40 triệu đồng/năm, tạo nền tảng tích lũy tài chính để nông dân chủ động tái đầu tư cho cộng đồng.
  • Thứ ba, minh bạch hóa cơ chế quản lý tài chính và tăng cường giám sát cộng đồng: Ban Chỉ đạo nông thôn mới các xã cần thiết lập quy chế công khai 100% các khoản thu chi ngân sách, vốn hỗ trợ và vốn đối ứng nhân dân tại nhà văn hóa ấp. Đồng thời, thành lập Ban Giám sát đầu tư cộng đồng với sự tham gia của tối thiểu 50% đại diện là người dân uy tín, nhằm loại bỏ tâm lý e ngại, nâng cao tính sẵn lòng đóng góp vốn đối ứng vượt mức 10% tổng dự toán công trình.
  • Thứ tư, phát huy nguồn lực từ các tổ chức tôn giáo và cộng đồng dân cư: Chính quyền địa phương cần ký kết chương trình phối hợp định kỳ với Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo và các cơ sở tôn giáo nhằm lồng ghép phong trào xây dựng nông thôn mới vào các hoạt động thiện nguyện, vận động xã hội hóa kinh phí bê tông hóa 100% đường trục ấp và hỗ trợ xóa nhà tạm cho các hộ nghèo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phương pháp của đề tài mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm độc giả chuyên môn:

  • Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước: Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới các cấp, cán bộ Ủy ban nhân dân huyện, xã vùng Đồng bằng sông Cửu Long sử dụng làm cẩm nang thực tiễn trong công tác vận động quần chúng, xây dựng kế hoạch phân bổ vốn và triển khai các tiêu chí cơ sở hạ tầng.
  • Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành kinh tế: Người học ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn có thể khai thác mô hình hồi quy OLS kết hợp phân tích nhân tố EFA cùng bảng câu hỏi khảo sát 59 biến quan sát để phát triển các đề tài luận văn, khóa luận tốt nghiệp.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế: Các chuyên gia hoạch định chính sách thuộc các dự án phát triển nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo tìm thấy nguồn tham khảo giá trị về phương thức tiếp cận có sự tham gia của người dân (PTD/PRA) tại Việt Nam.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu học thuật: Các viện nghiên cứu kinh tế - xã hội có thêm nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp tin cậy để so sánh, đối chiếu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông hộ và biến đổi cộng đồng nông thôn qua các chu kỳ chính sách.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình kinh tế lượng trong luận văn được vận hành như thế nào để lượng hóa sự tham gia của người dân?
Luận văn sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đo lường biến phụ thuộc là mức độ tham gia. Sau khi xử lý dữ liệu khảo sát 120 mẫu qua kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích EFA để rút trích các nhóm nhân tố độc lập, hàm hồi quy OLS được thiết lập nhằm xác định hệ số tác động biên của từng nhân tố đến hành vi tham gia thực tế của hộ dân.

Vì sao nghiên cứu lại lựa chọn 4 xã gồm Trung An, Thới Đông, Trung Hưng và Thạnh Phú để khảo sát?
Bốn xã này đại diện cho 11,1% tổng số xã toàn thành phố Cần Thơ, hội tụ đầy đủ các mức độ hoàn thành tiêu chí từ cao nhất đến thấp nhất tại thời điểm năm 2015: xã Trung An đạt chuẩn 20/20 tiêu chí, Thới Đông đạt 16/20 tiêu chí, Trung Hưng đạt 16/20 tiêu chí và Thạnh Phú đạt 12/20 tiêu chí, bảo đảm tính đa dạng và đại diện cho địa bàn.

Yếu tố học vấn ảnh hưởng ra sao đến mức độ tham gia xây dựng nông thôn mới tại địa phương?
Kết quả khảo sát chỉ ra rằng có tới 71,7% chủ hộ có trình độ học vấn dưới cấp 2 (57,5% trình độ tiểu học). Trình độ học vấn thấp làm giảm khả năng tiếp cận các thông tin quy hoạch, hạn chế kỹ năng phản biện chính sách và khiến người dân chủ yếu tham gia một cách thụ động theo lời kêu gọi thay vì chủ động đề xuất giải pháp.

Tôn giáo có vai trò như thế nào trong việc huy động các nguồn lực cộng đồng tại huyện Cờ Đỏ?
Tại huyện Cờ Đỏ, 45,8% hộ dân theo đạo Phật giáo Hòa Hảo và 20,8% theo Phật giáo. Tinh thần tương thân tương ái của các tôn giáo này là nền tảng thuận lợi giúp chính quyền địa phương vận động nguồn lực xã hội hóa để bắc cầu, làm đường giao thông và hỗ trợ bếp ăn từ thiện phục vụ an sinh xã hội.

Rào cản lớn nhất trong việc nâng tỷ lệ tham gia đóng góp tài chính của nông hộ là gì?
Thu nhập bình quân của người dân tuy đạt 27,46 triệu đồng/năm nhưng tỷ trọng phụ thuộc vào sản xuất lúa nước lên đến 82,5%. Sự bấp bênh về giá nông sản, tỷ lệ làm thuê chiếm 19,2% và mức độ tiếp cận tín dụng ưu đãi còn hạn chế khiến mức sẵn lòng đóng góp tiền mặt định kỳ của người dân chưa thực sự cao.

Kết luận

  • Luận văn đã khái quát toàn diện thực trạng triển khai 20 tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại huyện Cờ Đỏ, ghi nhận bước chuyển biến tích cực trong nâng cao thu nhập lên 27,46 triệu đồng/người/năm và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5,76%.
  • Đánh giá thực chứng mức độ tham gia của 120 hộ dân, chỉ ra rằng sự tham gia của cộng đồng hiện chủ yếu tập trung vào đóng góp ngày công và vốn đối ứng hạ tầng giao thông (14,155 tỷ đồng năm 2014), trong khi vai trò ra quyết định và giám sát còn thấp.
  • Vận dụng thành công mô hình định lượng kết hợp EFA và hồi quy OLS trên 59 biến quan sát để xác định các nhóm yếu tố then chốt chi phối sự tham gia của người dân nông thôn.
  • Khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa trình độ học vấn (71,7% dưới cấp 2), cơ cấu nghề nghiệp nông nghiệp (82,5%) và các tổ chức tôn giáo bản địa (45,8% Hòa Hảo) đối với tiến trình huy động nội lực.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi về truyền thông, đào tạo nghề, minh bạch tài chính và liên kết tôn giáo cho giai đoạn 2016-2020.

Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý quan tâm có thể khai thác chi tiết toàn văn tài liệu cùng bộ công cụ điều tra để ứng dụng hiệu quả vào công tác thực tiễn và nghiên cứu học thuật chuyên sâu.