CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm về cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Thuật ngữ “cạnh tranh” ñược dùng ở ñây là cách gọi tắt của cụm từ cạnh tranh kinh tế “Economics Competition” một dạng cụ thể của cạnh tranh. Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất và trao ñổi hàng hóa.
Do ñó, hoạt ñộng cạnh tranh gắn liền với sự tác ñộng của các quy luật thị trường, quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Theo ñịnh nghĩa của ðại từ ñiển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin thì “ Cạnh tranh là tranh ñua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình”. Theo Từ ñiển thuật ngữ Kinh tế học, nhà xuất bản từ ñiển Bách Khoa Hà Nội năm 2001 trang 42 có ghi: “ Cạnh tranh là sự ñấu tranh ñối lập giữa các cá nhân, tập ñoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành ñược”.
Ở trang 64 có ghi: “Chiến lược cạnh tranh – một khía cạnh của chiến lược thương mại bao gồm việc xí nghiệp phát triển các chính sách ñể ñối phó và ñánh bại các ñối thủ của mình trong vấn ñề cung cấp một sản phẩm nhất ñịnh”. Như vậy có thể thấy, trên góc ñộ tiếp cận khác nhau, liên quan tới nội dung và cấp ñộ xem xét, người ta ñưa ra các ñịnh nghĩa không ñồng nhất về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. ðối với một số người thì cạnh tranh và năng lực cạnh tranh chỉ có ý nghĩa trong quan hệ thương mại, ñược diễn tả thông qua các chỉ số về tỷ giá thực. Một số khác nhìn năng lực cạnh tranh lại bao gồm cả các ñiều kiện ñể triển khai hiệu quả hoạt ñộng SXKD tới ñiểm chót của quá trình cung ứng sản phẩm hàng hóa dịch vụ, là bảo ñảm nâng cao mức sống cho người dân.
Trong khi một số học giả quan niệm rằng năng lực cạnh tranh chỉ phù hợp với cấp ñộ công ty, thì một số khác lại cho rằng khái niệm này có thể xem xét trên cấp ñộ quốc gia. 14 Cạnh tranh, xét về bản chất luôn ñược nhìn nhận trong trạng thái ñộng và ñược ràng buộc trong mối quan hệ so sánh tương ñối. Vì vậy, mọi quan hệ giao tiếp mà các bên tham gia nỗ lực tìm kiếm vị thế có lợi cho mình ñều có thể diễn tả trong khả năng cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh ñược xem xét ñầy ñủ trên cả hai mặt: tích cực tạo ñộng lực cho việc vươn tới một kết quả tốt nhất nhưng nếu những kỹ năng này ñược thể hiện một cách cực ñoan, nó có thể dẫn ñến một thực trạng tiêu cực với kết quả trái ngược.
Trong xu thế hội nhập và trào lưu tự do hóa thương mại, khả năng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh ñược sử dụng rộng rãi trên quy mô toàn cầu, việc tiếp cận những khái niệm ñó cũng cần ñược xây dựng trên cơ sở logic, hệ thống. Theo ñó, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp phải ñược phân tích trong lợi thế cạnh tranh ngành, quốc gia và khu vực. Cạnh tranh ñược thực hiện khi có hai ñiều kiện. Trước hết là phải có các chủ thể tham gia cạnh tranh, các chủ thể này có cùng mục ñích, mục tiêu và kết quả ñạt ñược.
Thứ hai là phải có các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ trong cạnh tranh kinh tế như các ñặc ñiểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng, các ràng buộc của luật pháp, thông lệ kinh doanh trên thị trường. Quá trình cạnh tranh ñược tiến hành trong một không gian cố ñịnh (có thể phạm vi rộng hoặc hẹp) và thời gian không cố ñịnh (có thể là trong thời gian ngắn – một vụ việc cụ thể hoặc dài – toàn bộ quá trình hoạt ñộng và tồn tại). Vai trò của cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có vai trò rất quan trọng. Cạnh tranh cho phép sử dụng tối ưu các nguồn lực; thúc ñẩy áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật; thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng; thúc ñẩy sản xuất phát triển, thúc ñẩy tăng năng suất lao ñộng và hiệu quả kinh tế: ðối với doanh nghiệp: cạnh tranh quyết ñịnh sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Là ñộng lực thúc ñẩy cho doanh nghiệp tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả SXKD của mình. Cạnh tranh quyết ñịnh vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần doanh nghiệp. ðối với nền kinh tế - xã hội: cạnh tranh là ñộng lực phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cũng như năng suất lao ñộng – xã hội. Trong quá trình cạnh tranh ñể giành 15 ưu thế trên thị trường, các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá bán, hoàn thiện chất lượng dịch vụ sau bán hàng, người tiêu dùng có quyền lựa chọn sản phẩm ñúng yêu cầu.
Vì vậy, cạnh tranh là lực lượng ñiều tiết sản xuất và tiêu dùng, ñem lại lợi ích cho khách hàng. Như vậy, cạnh tranh là ñộng lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp, lợi ích người tiêu dùng và lợi ích của toàn xã hội. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng tạo ra những mặt trái là các vấn nạn xã hội như thất nghiệp, tiền công rẻ mạt, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn của bộ máy quản lý phát triển (tham nhũng, tha hóa ñạo ñức,. Phân loại cạnh tranh Có nhiều cách phân loại cạnh tranh tùy theo từng góc ñộ xem xét: - Căn cứ vào chủ thể tham gia: có 3 loại: + Cạnh tranh giữa người mua và người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh giữa người bán và người mua diễn ra theo nguyên tắc mua rẻ bán ñắt trên thị trường.
Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất và ngược lại người mua cũng muốn mua sản phẩm ñó với giá thấp nhất. Giá cuối cùng là giá thống nhất giữa người mua và người bán sau khi thỏa thuận qua ñó hoạt ñộng mua bán ñược thực hiện. + Cạnh tranh giữa người bán và người bán (giữa những người sản xuất) với nhau: ðây là các cuộc cạnh tranh quyết liệt nhất, chiếm ña số trên thị trường. Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ ñã tác ñộng ñến các nhà sản xuất, bên cạnh ñó còn làm thay ñổi nhu cầu của người tiêu dùng, dẫn ñến làm thay ñổi dần các yếu tố cạnh tranh.
Hay nói một cách chung nhất cạnh tranh là sự ganh ñua ở các giác ñộ: chất lượng, giá cả, nghệ thuật tổ chức tiêu thụ và thời gian. Giá cả là yếu tố thứ nhất của cạnh tranh. Khi nhu cầu con người phát triển cao hơn thì yếu tố chất lượng sản phẩm chiếm vị trí chính yếu. + Cạnh tranh giữa người mua và người mua: Là cuộc cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu.
Khi lượng cung một loại hàng hóa, dịch vụ nào ñó quá thấp so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa người mua sẽ trở nên căng thẳng hơn. ðây là cuộc cạnh tranh mà theo ñó người bán sẽ ñược lợi còn những người mua sẽ bị thiệt. - Căn cứ vào phạm vi kinh tế: có các loại: 16 + Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành cùng sản xuất ra một loại sản phẩm nhất ñịnh. Sự cạnh tranh này nhằm thúc ñẩy kỹ thuật phát triển.
+ Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau nhằm thu ñược lợi nhuận tối ña. Trong quá trình cạnh tranh này có sự phân bổ vốn ñầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành và hình thành lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận bình quân của ngành. - Căn cứ vào mức ñộ và tính chất cạnh tranh, gồm có: + Cạnh tranh hoàn hảo: Là thị trường trong ñó không có một người bán hay người mua nào có vai trò lớn trong toàn bộ thị trường của một loại hàng hóa nhất ñịnh, từ ñó không thể có ảnh hưởng ñến giá cả thị trường của hàng hóa ñó. + Cạnh tranh không hoàn hảo: Là thị trường trong ñó khối lượng sản phẩm của người bán có nhiều sự khác biệt dẫn ñến vai trò của mỗi người bán có ảnh hưởng ñến lượng cung ứng và giá cả thị trường.
Trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo phần nào doanh nghiệp có thể kiểm soát ñược giá cả. + Cạnh tranh ñộc quyền: Là thị trường trong ñó có nhiều người bán cùng một sản phẩm, nhưng sản phẩm của mỗi người bán lại ít nhiều có sự khác nhau. Ví dụ: thị trường sản phẩm ngành dệt, sắt thép, xi măng,. - Căn cứ vào thủ ñoạn sử dụng trong cạnh tranh, gồm có: + Cạnh tranh lành mạnh: là hình thức cạnh tranh ñúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mức xã hội.
+ Cạnh tranh không lành mạnh: là hình thức cạnh tranh dựa vào kẽ hở của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Cạnh tranh xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XVIII, cho ñến nay có rất nhiều ñịnh nghĩa về năng lực cạnh tranh: Theo tổ chức OECD – Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ñưa ra ñịnh nghĩa sau: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương ñối cao trên cơ sở sử 17 dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các ñịa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong ñiều kiện cạnh tranh Quốc tế”. Hội ñồng về sức cạnh tranh của Mỹ ñịnh nghĩa: “Sức cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi mức sống của dân chúng có thể ñược nâng cao một cách vững chắc, lâu dài”.
Theo từ ñiển thuật ngữ chính sách thương mại: “ Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác ñánh bại về năng lực kinh tế ” Dictionary of Trade Police, University of Addelaie, 1997. Theo ñịnh nghĩa của ðại từ ñiển Tiếng Việt, năng lực cạnh tranh là: “Khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một loại thị trường tiêu thụ”. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm ñó tiêu thụ ñược nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm ñó trên cùng thị trường.