TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI BUI MANH HUNG (Chủ biên) NGUYÊN THỊ MAI GIÁO TRÌNH aA NHA XUAT BAN XAY DUNG 2n & YoY TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI { PAL BUI MANH HUNG (Chu bién) † Pv NGUYEN THI MAI GIAO TRINH KINH TE XAY DUNG NHA XUAT BAN XAY DUNG HA NOI - 2003 LỜI NÓI ĐẦU Môn học Kinh tế xây dựng nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về kinh tế trong ngành Xây dựng để sinh viên hiểu và vận dụng được khía cạnh kinh tế trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Trong quá trình nghiên cứu Kinh tế xây dựng yêu câu sinh viên nắm vững các khái niệm cơ bản, hiểu được nội dung những vấn đề kinh tế trong ngành Xây dựng. Biết cách nêu, đối chiếu, vận dụng các bài toán kinh tế, trên cơ sở đó lập và thực hiện các bài toán cũng nhĩ các tình huống kinh tế trong thực tế sản xuất xây lắp. Giáo trình Kinh tế xây dựng được xuất bản lần đầu tiên tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội năm 1974, lần thứ hai năm 1994 và đến nay do chủ trương, đường lối về xây dựng có chỗ thay đổi; định mức, đơn giá, một số vấn đề quản lý Nhà nước về đầu tut xdy dung, chỉ phí xây dựng và các phương pháp xác định chỉ phí xây dựng. Do vậy chúng tôi đặt vấn đề biên soạn lại giáo trình này để phản ánh kịp thời những thay đổi nêu trên vào nội dung của giáo trình đồng thời giúp sinh viên cập nhật những nội dung mới nhất của kinh tế trong ngành Xây dựng. Mục tiêu của giáo trình này ngoài việc trang bị những kiến thức cơ bản, nội dung chính về kinh tế trong ngành Xây dựng, bạn đọc còn có thể tham khảo một số nội dung chỉ tiết trong các chương 2, 3, 4, 5 và 8. Nội dung của giáo trình gồm 9 chương do hai tác giả là giảng viên chính đã giảng dạy nhiều năm của trường Đại học Kiến trúc biên soạn. Tác giả Nguyên Thị Mai viết các chương: mở đầu, chương 2, 4 và 6. Tác giả Bùi Mạnh Hàng (Chủ biên) viết các chương Ì, 3, 5, 7 và 8. Chúng tôi chân thành cảm ơn các tác giả trong những tài liệu tham khảo, cẩm ơn TS. Dinh Văn Khiên, PGS. Định Đăng Quang, TS. Trần Hồng Mai và các đồng nghiệp đã có những đóng góp quý báu cho cơ cấu, nội dung của giáo trình. Trong quá trình biên soạn, do trình độ còn hạn chế nên chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những đóng góp từ bạn đọc. Bùi Mạnh Hùng Chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế - Máy Xây dựng Chương mở đầu ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ XÂY DỰNG ¡. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Sản phẩm của xã hội nói riêng cũng như sản xuất của xã hội nói chung bao giờ cũng có hai mặt: mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt xã hội của sản xuất. Mặt kỹ thuật của sản xuất do các môn khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật nghiên cứu, mặt xã hội của sản xuất do các môn kinh tế ngành nghiên cứu. Sản xuất ngày càng phát triển, sự phân công lao động xã hội ngày càng chặt chẽ, sâu sắc và phức tạp dẫn đến sự phân hoá khoa học kinh tế cũng diễn ra, các môn kinh tế ngành xuất hiện để kịp thời nghiên cứu các vấn đề kinh tế của từng ngành. Công nghiệp xây dựng là một ngành sản xuất của cải vật chất đạc biệt, là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, phát triển theo quy luật kinh tế khách quan của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó đối tượng nghiên cứu của môn Kinh tế xây dựng bao gồm một số nội dung sau: - Nghiên cứu những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành công nghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân, vận động theo cơ chế thị trường; qua đó nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng, các hình thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế, các hoạt động sản xuất kinh doanh xây dựng hợp lý đạt hiệu quả cao; - Nghiên cứu những phương hướng cơ bản của tiến bộ khoa học - công nghệ xây dựng, đồng thời nghiên cứu cơ sở lý luận về kinh tế đầu tư và thiết kế xây dựng nhằm đánh giá, so sánh và lựa chọn phương án kỹ thuật, các dự án đầu tư cũng như các giải pháp thiết kế tốt nhất; - Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tổ chức lao động và tiền lương cũng như các biện pháp quản lý vốn của doanh nghiệp xây lắp; - Nghiên cứu về quản lý chi phí xây dựng và phương pháp xác định chỉ phí xây dựng; - Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật hợp lý tiên tiến để chúng trở thành công cụ kinh tế kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất với chi phí hợp lý nhằm đảm bảo chất lượng, rút ngắn thời gian thi công và hạ giá thành xây dựng. Thực hiện từng bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nói chung và công nghiệp hoá ngành Xây dựng cơ bản nói riêng mà trước mắt lấy công nghiệp hoá và hiện đại hoá làm trung tâm. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Kinh tế xây dựng bao gồm nhiều nội dung phong phú vẻ lý luận và thực tiên. Do đó cũng như các môn khoa học khác, môn Kinh tế xây dựng dựa vào phương pháp biện chứng để nghiên cứu tính quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong quá trình phát sinh và phát triển của ngành công nghiệp xây dựng. Khoa học kinh tế xây dựng nghiên cứu những hiện tượng, những mặt mâu thuẫn cũng như những mặt thống nhất của chúng trong quá trình phát triển, trong mối quan hệ giữa chúng với nhau và sự liên quan giữa chúng với môi trường xung quanh. Môn Kinh tế xây dựng còn sử dụng phương pháp diễn giải kết hợp với phương pháp quy nạp để nghiên cứu, kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn hoạt động sản xuất - kinh doanh của ngành. Nghĩa là các vấn đẻ nghiên cứu phải có cơ sở đi từ việc thu thập xử lý các số liệu, thông tin rồi phân tích, đánh giá, tổng hợp để đẻ xuất các giải pháp hợp lý, tối ưu nhằm giải quyết các bài toán kinh tế - kỹ thuật đạt hiệu quả kinh tế cao. Chương 1 CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG TRONG NEN KINH TE QUOC DAN 1. NGANH CONG NGHIEP XAY DUNG TRONG NEN KINH TE QUOC DAN 1. Sự phát triển ngành Xây dựng trên thế giới Lịch sử phát triển của ngành Xây dựng có một số đặc điểm sau: a. Ngành Xây dựng (bao gồm cả kiến trúc) vừa là một hoạt động sản xuất, lại vừa là một hoạt động nghệ thuật, nên quá trình phát triển của nó vừa chịu ảnh hưởng của phương thức sản xuất, lại vừa chịu ảnh hưởng của nhân tố thuộc kiến trúc thượng tầng của một hình thái xã hội nhất định. Ngành Xây dựng là một trong những ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của nhân loại, nhưng lại có tốc độ phát triển khoa học - công nghệ chậm so với nhiều ngành khác. Ở giai đoạn đầu của chế độ phong kiến đã xảy ra một số ngưng chệ nhất định trong lịch sử phát triển kiến trúc và xây dựng do sự kìm hãm của chế độ phong kiến gây ra. Về nghiên cứu khoa học ở ngành Xây dựng người ta bỏ vốn ít hơn so với các ngành khác, (khoảng 1% thu nhập, trong khi đó ở các ngành khác có thể lên tới 10% thu nhập). Người ta chỉ chú ý nghiên cứu ứng dụng và bỏ qua nghiên cứu cơ bản. Một trong những lý do chính của việc ít chú ý đến nghiên cứu khoa học là vì các sáng kiến cải tiến công nghệ xây dựng khó giữ được bí mật. Về tổ chức sản xuất, ngành Xây dựng cũng phát triển chậm hơn. Ở Tây Âu hình thức công trường thủ công đã ngự trị từ nửa sau thế kỷ XVI đến mãi gần một phần ba thế kỷ XVIII. Sau đó nền đại cơ khí hoá đã ra đời, nhưng trong xây dựng thì bước chuyển biến này xảy ra chậm chạp hơn vào đầu thế kỷ XX. Nhìn chung cùng với sự phát triển của xã hội, ngành Xáy dựng cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ về tốc độ, quy mô, trình độ kỹ thuật trong lĩnh vực khảo sát, thiết kế thi công, sản xuất vật tư thiết bị và tổ chức quản lý xây dựng. Các công trình kiến trúc vĩ đại đã và đang tồn tại qua các chế độ xã hội Cổ đại, Trung đại, Cận đại và Đương đại ở khấp châu lục là những minh chứng cho tính cổ điển và sự phát triển không ngừng của ngành Xây dựng. Thời kỳ kiến trúc cổ đại đã để lại những công trình kim tự tháp, lăng mộ, đền đài, thành quách như: quần thể Kim Tự Tháp Cairô (Cổ Ai Cạp), Đền Páctênông và quần thể kiến trúc trên đồi Acropoon - Aten (Cổ Ai Cập). Quảng trường Rôma, đấu trường Côlizê - Rôm (Italia), Vạn lý trường thành (Trung Quốc). Thời kỳ kiến trúc Cận đại và Trung đại để lại những công trình kiến trúc xuất sắc thế giới: Kiến trúc nhà thờ Rôma, Gôtich của thiên chúa giáo, chùa chiền, đền đài, thành luỹ kinh đô và cung điện của vua chúa phong kiến ở Châu Âu và Châu Á như: Nhà thờ XanhPíc - Rôm (Ý). nhà thờ Đức Bà-Paris (Pháp), cung điện Véc-Xây (Pháp). đến Angco Thom-Angco Vat (Campuchia), dén Tazomaha - NiuDéli (An Độ), Cố cung Bác Kinh (Trung Quốc). Thời kỳ kiến trúc Duong dai những công trình kiến trúc được xếp hạng cao có: Tháp EpPhen-Paris (Pháp), đơn vị nhà ở lớn MacXây (Pháp), ga hàng không của hãng TWA NiuOóc (Mỹ), nhà hát Opera-Xítnây (Úc), Nhà Quốc hội Brazin (Brasinlia), Trụ sở Liên hợp quốc-NiuOóc (Mỹ), quần thể kiến trúc thể thao Olimpic (Nhật bản). Trong thập kỷ 90 các nhà nghiên cứu và bình luận kiến trúc thế giới da chon loc 10 cong trình kiến trúc xuất sắc của Thế kỷ XX. Tiêu chí để bình chọn và xếp hạng các công trình này dựa trên ảnh hưởng về kinh tế, tác động và lợi ích đối với đời sống con người, ảnh hưởng của nó đến các công trình trong tương lai. Sự đối mới công nghệ và ứng dụng công nghệ mới trong thi công. Mười công trình đó được xếp hạng theo thứ tự dưới đây: Đường hầm qua eo biển Manche: nằm phía Tây Châu Âu, phân chia giữa Pháp và Anh. Cầu Cổng vàng ở Mỹ. Hệ thông đường ô tö liên tỉnh của Mỹ.