CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 1.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh. Mọi doanh nghiệp nếu muốn tồn tại và phát triển đều phải giải quyết 03 vấn đề đó là sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào và tiêu thụ ra sao để có thể thu được kết quả tối đa với nguồn lực có hạn. Kết quả tối đa được tạo nên từ nguồn lực có hạn, đó chính là hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì thế việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là rất cần thiết.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng nguồn nhân tài vật lực của doanh nghiệp, được xác định bằng cách đối chiếu so sánh giữa kết quả đạt được với các nguồn lực để tạo ra kết quả đó. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp, có liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều mặt của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động v.v… Hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường với đặc điểm cạnh tranh gay gắt. Với đăc trưng của nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường có điều tiết vĩ mô của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh phải được xét trên quan điểm toàn diện. Tính toàn diện ở đây là phải xét hiệu quả sản xuất kinh doanh trên các góc độ khác nhau và nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau: không gian và thời gian, số lượng và chất lượng.
Dưới góc độ người chủ sở hữu doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh được thể hiện bằng hiệu quả tài chính. Dưới góc độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh doanh được thể hiện qua hiệu quả kinh tế xã hội. Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị mà đăc biệt là của đơn vị nhà nước thì phải bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội. 5 Để xác định hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, người ta thường so sánh giữa kết quả hữu ích cuối cùng đạt được với lượng chi phí xã hội bỏ ra.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp biểu hiện thông qua sự so sánh giữa các chỉ tiêu đầu ra và các chỉ tiêu đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Do vậy, vấn đề quan trọng trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả là sử dụng những đại lượng đầu ra và đầu vào nào để đảm bảo phản ánh được chính xác thực chất khách quan hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đầu vào. Chỉ tiêu đầu vào phản ánh nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực.
- Tổng tài sản: Tổng tài sản của doanh nghiệp thường được xét theo hai mặt: + Mặt thứ nhất phản ánh tổng tài sản theo kết cấu và hình thức tồn tại trong quá trình sản xuất kinh doanh gọi là tài sản có. Tài sản có của doanh nghiệp gồm hai phần: tài sản lưu động và tài sản cố định. + Mặt thứ hai phản ánh tổng tài sản theo nguồn hình thành còn gọi là tài sản nợ hay nguồn vốn. Nguồn vốn của doanh nghiệp hình thành từ hai nguồn là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu.
- Số lượng lao động sử dụng: Lao động là nhân tố đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Lực lượng lao động đông đảo, có kỷ luật, có chuyên môn là nguồn lực đặc biệt góp phần tạo nên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với sản xuất, lao động được đề cao về chuyên môn, sức khoẻ và tính cần cù chịu khó, còn trong lĩnh vực kinh doanh lao động lại mang hình thái trí tuệ, năng động và linh hoạt với mọi biến động bên ngoài. Nguồn lực lao động có thể đo bằng số người lao động, ngày công, giờ công.
Trong thực tế nguồn nhân lực của doanh nghiệp thường có biến động theo thời gian, do vậy khi tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta thường dùng số bình quân. 6 - Chi phí sản xuất kinh doanh: Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Chi phí có thể được nhìn nhận một cách trừu tượng chính là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động quá khứ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh; hoặc là những phí tổn ước tính thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh. Tuy các định nghĩa trên có sự khác nhau về hình thức nhưng tất cả đều thừa nhận chi phí là phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phải phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh.
Theo nguyên tắc kết toán của Việt Nam thì chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm : + Giá vốn hàng bán (gồm chi phí nguyên vật liệu, nhân công, sản xuất) + Chi phí bán hàng. + Chi phí quản lý doanh nghiệp. + Chi phí hoạt động tài chính. + Chi phí khác.2 Các chỉ tiêu đầu ra.
Đây là các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Doanh thu ròng: Doanh thu ròng hay còn gọi là doanh thu thuần hoặc đơn giản hơn gọi chung là doanh thu là chỉ tiêu kết quả kinh doanh quan trọng đầu tiên của một doanh nghiệp. Trong hạch toán kế toán, doanh thu ròng được tính bằng cách lấy tổng doanh thu trừ đi các khoản khấu trừ như hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán…. Doanh thu chứng minh thế đứng, chứng minh qui mô hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường.
Doanh thu tăng nghĩa là sản phẩm, hàng hoá của đơn vị ngày càng được nhiều người tín nhiệm. Doanh thu phụ thuộc vào khối lượng và giá cả hàng 7 hoá. - Giá trị gia tăng: Giá trị gia tăng là phần giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Giá trị gia tăng phản ánh toàn bộ thành quả của doanh nghiệp trong thời gian nhất định.
Nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất hoặc tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá dịch vụ mua vào tương ứng. Giá trị gia tăng được phân chia cho 04 tác nhân chủ yếu đã tham gia. Đó là: + Trả tiền lương, tiền công cho công nhân viên. + Trả tiền lãi vay cho người vay vốn.
+ Nộp thuế nhà nước. + Lợi nhuận của chủ doanh nghiệp. Do giá trị gia tăng của tất cả các doanh nghiệp cộng lại sẽ bằng GDP toàn quốc, mà GDP tính theo đầu người là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh trình độ phát triển và mức sống dân cư tại mỗi nước, vì vậy giá trị gia tăng là chỉ tiêu phản ánh đầy đủ kết quả hoạt động của doanh nghiệp dưới góc độ toàn bộ nền sản xuất xã hội. Giá trị gia tăng có thể được tính như sau: GTGT = V + T + I + NI Trong đó: V: là thu nhập của người lao động (gồm lương, thưởng, phụ cấp, bảo hiểm).
T: Các loại thuế, phí và thủ tục phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh. I: Tiền lãi trả cho người vay vốn. NI: Lợi nhuận sau thuế. - Thuế : Thuế và các khoản phí và thủ tục phí là nguồn đóng góp quan trọng của các 8 doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước, tạo nguồn tích luỹ để nhà nước hoạt động và tác động tích cực vào nền kinh tế xã hội.
- Lợi nhuận : Biểu hiện đặc trưng nhất của hiệu quả tài chính là lợi nhuận. Lợi nhuận chính là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Lợi nhuận chi phối toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư nhiều hơn, sâu hơn và rộng hơn hoạt động sản xuất kinh doanh của mình để thoả mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội và có thể đứng vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt.
Lợi nhuận được hiểu là khoản chênh lệch giữa doanh thu ròng với chi phí thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh và nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Lợi nhuận càng cao thì thể hiện càng rõ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và ngược lại. Tuy nhiên, lợi nhuận mới thể hiện mặt lượng của hiệu quả chứ chưa thể hiện mặt chất của hiệu quả. - Tỷ xuất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) : Đây là chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận được tạo ra trên một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Chỉ tiêu này dựa vào 02 chỉ tiêu tài chính cơ bản nhất phản ảnh nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này không những thể hiện hiệu quả tài chính của doanh nghiệp mà nó còn thể hiện hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp. NI ROA: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA (doanh lợi theo vốn sản xuất) 100% A NI: lợi nhuận ròng A: Tổng tài sản - Tỷ xuất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Chúng ta biết rằng trong tổng tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ bỏ ra 9 một phần vốn gọi là vốn chủ sở hữu, phần còn lại là doanh nghiệp vay. Vì vậy, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh chính xác nhất hiệu quả của lượng tiền mà chủ sở hữu đã đầu tư.
Đây là chỉ tiêu được coi là quan trọng nhất trong việc đánh giá sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh xét về khía cạnh tài chính ở Việt Nam. ROE : là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. NI ROE NI : là lợi nhuận ròng 100% E : là vốn chủ sở hưũ E Tỷ số trên cũng có thể được viết như sau: NI ROE Trong đó: D : là tổng nợ phải trả. 1 100 A : là tổng tài sản.
1 A % D/A - Tỷ số P/E hay còn gọi là tỷ số thị giá - thu nhập Tỷ số này so sánh giữa giá thị trường của một cổ phiếu với thu nhập trên một cổ phiếu. Tỷ số này thể hiện nhà đầu tư muốn thu một đồng lợi nhuận thì phải bỏ ra bao nhiêu vốn. P/E P P: Thị giá cổ phiếu EPS EPS: thu nhập trên một cổ phiếu Đây là chỉ tiêu rất thông dụng cho các doanh nghiệp có tham gia thị trường chứng khoán.