Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (Mã số: 2000-98-083) do TS. Nguyễn Ngọc Hiến làm chủ nhiệm, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia thuộc Bộ Nội vụ và hoàn thành năm 2003. Công trình xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc Đổi mới kinh tế tại Việt Nam, vốn được khởi xướng từ cuối năm 1986. Trong tiến trình này, Chính phủ Việt Nam chủ trương xây dựng chính sách tài chính công lành mạnh nhằm phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm, hướng tới mục tiêu phát triển ổn định và bền vững. Việc triển khai cải cách thuế giai đoạn II cùng với sự ra đời của Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 đã từng bước định hình khuôn khổ quản lý ngân sách, tăng nguồn thu và cơ cấu lại chi tiêu theo hướng xóa bỏ dần bao cấp, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, đồng thời kiểm soát bội chi ở mức hợp lý.

Tuy nhiên, thực tiễn quản lý tài chính công giai đoạn cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000 bộc lộ nhiều điểm bất cập. Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 cùng hệ thống chính sách thuế ban hành từ cuối thập niên 1980 và sửa đổi trong thập niên 1990 không còn đáp ứng kịp thời sự vận động của nền kinh tế thị trường. Tình trạng thất thu, nợ đọng và khê đọng thuế diễn ra trên diện rộng; chính sách thuế chưa bao quát hết nguồn thu phát sinh. Về phía chi tiêu, nguồn lực tài chính nhà nước còn bị phân tán, dàn trải cho nhiều mục tiêu, tình trạng lãng phí và bao cấp chưa được xử lý dứt điểm. Mối quan hệ phân cấp tài chính giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc để nâng cao hiệu lực phân bổ nguồn lực. Bối cảnh đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn để phục vụ việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước và các luật thuế trong chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Nghiên cứu các lý luận cơ bản về tài chính công, làm rõ vai trò, đặc điểm và các chức năng cốt lõi của tài chính công trong nền kinh tế.
  2. Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý tài chính công tại Việt Nam qua các thời kỳ, tập trung vào giai đoạn 1991-2001 trên các mặt thu, chi ngân sách, nợ chính phủ và những hạn chế quản lý giai đoạn 1991-2002.
  3. Đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và giải pháp tăng cường quản lý tài chính công trong thời kỳ mới, gắn liền với tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tài chính công dưới giác độ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nội dung cơ bản của tài chính công, bao gồm hoạt động đánh thuế tạo nguồn thu và hoạt động chi tiêu ngân sách nhà nước trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và thực tiễn được khảo sát trọng tâm trong thời kỳ 1991-2001 (đánh giá hạn chế đến năm 2002), có so sánh đối chiếu với giai đoạn trước đổi mới và định hướng giải pháp cho các năm tiếp theo.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống tài chính công trên phạm vi toàn quốc, xem xét cơ chế phân cấp giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về khung lý thuyết, đề tài tổng hợp các quan điểm học thuật quốc tế và trong nước về bản chất của tài chính công. Về phía các tác giả quốc tế, đề tài viện dẫn định nghĩa của Christopher Pass, Bryan Lowes và Leslie Davies (tiếp cận tài chính công từ góc độ lợi tức và chi tiêu của chính quyền cùng tác động tổng thể đến nền kinh tế); quan điểm của Harvey S. Rosen (đồng nhất tài chính công với kinh tế học khu vực công, phân tích các chính sách thuế và chi tiêu tác động đến phân bổ nguồn lực và phân phối thu nhập); quan điểm của Joseph E. Stiglitz (nhấn mạnh sự khác biệt giữa tài chính công chú trọng vào nguồn thu và kinh tế học công cộng tập trung vào chính sách chi tiêu); cùng định nghĩa của John Bascom Haveman về việc huy động và sử dụng tiền tệ của các cấp chính quyền. Về phía học giả trong nước, đề tài tổng thuật định nghĩa của PTS. Nguyễn Ngọc Hùng (gắn tài chính công với các chức năng kinh tế của nhà nước), giáo trình của Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội, nghiên cứu của TS. Đỗ Văn Thành và đề tài khoa học của PGS. Lê Thế Tường tại Học viện Hành chính Quốc gia.

Trên cơ sở đó, đề tài phân định sự khác nhau giữa tài chính công và tài chính nhà nước thông qua ba tiêu chí:

  • Về nguồn thu: Tài chính công gắn liền với các khoản thu bắt buộc của ngân sách nhà nước qua thuế, phí, lệ phí và tín dụng nhà nước; trong khi tài chính nhà nước bao hàm cả các quỹ tài chính ngoài ngân sách (quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ tích lũy, quỹ hỗ trợ đầu tư).
  • Về tính chất hoạt động: Tài chính công hoàn toàn không phục vụ mục tiêu kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận; trong khi tài chính nhà nước bao gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh sinh lời của các doanh nghiệp nhà nước.
  • Về mục tiêu chi tiêu: Tài chính công phục vụ việc thực thi các chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội; trong khi tài chính nhà nước bao gồm cả chi tiêu cung ứng hàng hóa, dịch vụ thông thường của khối doanh nghiệp nhà nước.

Về cơ sở lý luận kinh tế học, đề tài phân tích sự tiến hóa của các trường phái:

  • Trường phái Cổ điển và Tân cổ điển: Đại diện bởi William Petty, Boisguillebert, Francois Quesnay, Turgot, và đặc biệt là Adam Smith với tác phẩm "Của cải của các dân tộc" (1776). Trường phái này chủ trương nguyên lý "bàn tay vô hình", xem thị trường tự do tự điều chỉnh cung cầu để đạt sản lượng tiềm năng, giới hạn sự can thiệp của nhà nước ở mức tối thiểu nhằm giữ trật tự xã hội và bảo đảm an ninh, duy trì nguyên tắc "ngân sách tốt nhất là ngân sách cân bằng".
  • Trường phái Keynes: Khởi xướng bởi John Maynard Keynes sau cuộc đại khủng hoảng 1929-1933. Lý thuyết chứng minh sự thất bại của thị trường do sự tồn tại của độc quyền, hàng hóa công cộng, tác động ngoại lai tiêu cực và thông tin bất đối xứng. Keynes đưa ra mô hình số nhân chi tiêu, hàm tiêu dùng, hiệu quả đầu tư cận biên và sở thích thanh khoản, khẳng định vai trò của nhà nước trong việc sử dụng chính sách tài khóa để kích thích tổng cầu, đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái. Đề tài cũng chỉ ra những khiếm khuyết khi áp dụng máy móc lý thuyết Keynes tại các nước đang phát triển trong thập niên 1960-1980 (tăng gánh nặng thuế quá mức và vay nợ nước ngoài thiếu kiểm soát chất lượng phân bổ).
  • Trường phái Musgrave: Richard Musgrave trong tác phẩm "Tài chính công - Lý thuyết và chính sách" đã hệ thống hóa ba chức năng căn bản của tài chính công: phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô.
  • Lý thuyết kinh tế học hiện đại về nền kinh tế hỗn hợp: Kết hợp sự điều tiết của thị trường với sự can thiệp có mức độ của chính phủ, đồng thời phân tích những "thất bại của chính phủ" nảy sinh trong thập niên 1970-1980 do thông tin hạn chế, khả năng kiểm soát khu vực tư nhân bị giới hạn, sự quan liêu của bộ máy và sự chậm trễ trong quá trình hiệp thương chính trị.

Để lượng hóa và minh họa các chức năng kinh tế, đề tài sử dụng hai công cụ phân tích hình học:

  • Đường cong giới hạn khả năng và lợi ích Pareto: Minh họa trạng thái hiệu quả Pareto và quá trình cải thiện Pareto trong việc phân bổ nguồn lực công cộng.
  • Đường cong Lorenz: Đo lường mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập xã hội, chứng minh vai trò điều chỉnh phân phối của các công cụ thuế lũy tiến và trợ cấp xã hội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được đề tài áp dụng gồm: phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê kinh tế và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia. Nguồn dữ liệu sử dụng là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Ngân sách nhà nước năm 1996, các luật thuế) và các báo cáo thống kê, quyết toán ngân sách nhà nước của Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý nhà nước giai đoạn 1991-2001.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về tài chính công và quản lý tài chính công

Chương I tập trung xây dựng cơ sở khoa học cho toàn bộ đề tài, bao gồm năm nội dung lớn:

  1. Khái niệm tài chính công: Khẳng định tài chính công là hệ thống các hoạt động thu và chi bằng tiền của Nhà nước, phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ công nhằm phục vụ chức năng vốn có của Nhà nước.
  2. Cơ sở lý luận của tài chính công: Khảo cứu tiến trình từ thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith, lý thuyết kích cầu của Keynes, mô hình ba chức năng của Musgrave đến mô hình kinh tế hỗn hợp hiện đại.
  3. Đặc điểm, vai trò và chức năng của tài chính công:
    • Bốn đặc điểm: Gắn liền với sở hữu công cộng và phục vụ lợi ích chung; Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định việc tạo lập và sử dụng; mang tính công cộng sâu sắc ở tầm vĩ mô; kết hợp giữa tính không bồi hoàn với bồi hoàn, giữa tính bắt buộc với tính tự nguyện.
    • Năm vai trò chủ yếu: Huy động nguồn lực tài chính cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa; điều chỉnh kinh tế - xã hội vĩ mô và định hướng kinh tế vi mô; đảm bảo duy trì sự tồn tại và vận hành của bộ máy nhà nước; giữ vị trí chủ đạo, chi phối và định hướng trong hệ thống tài chính quốc dân; thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, bảo đảm công bằng và an sinh xã hội.
    • Bốn chức năng: Phân bổ hiệu quả nguồn lực; phân phối công bằng thu nhập; ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
  4. Lý luận chung về quản lý tài chính công:
    • Phân tích bốn đặc điểm quản lý: Thực hiện bằng pháp luật và theo kế hoạch; đặc biệt coi trọng biện pháp tổ chức - hành chính; kết hợp quản lý yếu tố con người với yếu tố tài chính; bảo đảm sự thống nhất chặt chẽ giữa mặt giá trị và hiện vật (giá trị sử dụng).
    • Xác lập bốn quan điểm quản lý: Phục vụ nhiệm vụ chính trị; thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định xã hội; phát huy tối đa nội lực; triệt để tiết kiệm và hiệu quả.
    • Ba nội dung quản lý cốt lõi: Quản lý quá trình thu (đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời, công bằng); quản lý quá trình chi (bảo đảm tiến độ, tiết kiệm, chi đúng dự toán cho chi thường xuyên, đầu tư phát triển và trả nợ); quản lý cân đối thu - chi ngân sách (nguyên tắc thu là giới hạn của chi, vay nợ chỉ dùng cho đầu tư phát triển).
    • Hệ thống công cụ và bộ máy: Phân tích năm công cụ quản lý (pháp luật, kế hoạch hóa, chính sách kinh tế vĩ mô, thanh tra - kiểm toán, tổ chức bộ máy) cùng cơ cấu thẩm quyền của các thiết chế từ Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước đến chính quyền địa phương các cấp.
  5. Kinh nghiệm quản lý tài chính công của một số nước: Đúc rút các bài học quốc tế về quản lý ngân sách, kiểm soát nợ và cải cách hành chính tài chính công.

Chương II: Thực trạng quản lý tài chính công ở nước ta thời gian qua

Chương II phân tích thực tiễn quản lý tài chính công tại Việt Nam qua các giai đoạn phát triển:

  • Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới: Nền tài chính vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp qua hiện vật. Nguồn thu ngân sách hạn hẹp, mang tính điều động nội bộ giữa các đơn vị kinh tế quốc doanh; chi tiêu mang nặng tính bình quân và bao cấp toàn diện, triệt tiêu động lực kinh tế.
  • Khái quát thời kỳ đổi mới: Bắt đầu từ năm 1986, hệ thống tài chính công từng bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Cải cách thuế bước đầu hình thành hệ thống thu dựa trên luật định; Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 tạo khung pháp lý điều chỉnh hoạt động lập, chấp hành và quyết toán ngân sách.
  • Thực trạng quản lý thu ngân sách giai đoạn 1991-2001: Tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước tăng trưởng, giảm dần sự phụ thuộc vào viện trợ. Cơ cấu thu chuyển dịch theo hướng bền vững hơn, tăng tỷ trọng thu từ thuế nội địa và thuế xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, tình trạng nợ đọng, trốn thuế và thất thu còn nghiêm trọng; biểu thuế còn phức tạp, chưa bao quát được toàn bộ các thành phần kinh tế mới phát sinh.
  • Thực trạng chi ngân sách giai đoạn 1991-2001: Nhà nước đã cơ cấu lại chi tiêu theo hướng xóa bỏ cấp phát vốn kinh doanh cho doanh nghiệp nhà nước, tập trung ngân sách cho chi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học công nghệ và chương trình xóa đói giảm nghèo. Dù vậy, hiệu quả chi tiêu còn thấp, tình trạng phân bổ vốn dàn trải, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản diễn ra phổ biến.
  • Đánh giá thực trạng nợ chính phủ: Việt Nam từng bước đa dạng hóa hình thức huy động vốn bù đắp bội chi thông qua phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng tổ quốc và tiếp cận các nguồn vay ODA nước ngoài. Bội chi ngân sách được kiểm soát quanh ngưỡng 3% GDP. Tuy nhiên, nghĩa vụ trả nợ bắt đầu gia tăng, đặt ra yêu cầu phải quản lý chặt chẽ danh mục nợ và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.
  • Những hạn chế của quản lý tài chính công giai đoạn 1991-2002: Hệ thống văn bản pháp luật bộc lộ độ trễ; quy trình phân cấp ngân sách chưa rõ ràng giữa các cấp chính quyền, dẫn đến tình trạng ỷ lại vào ngân sách trung ương; thủ tục cấp phát, kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước còn rườm rà, thiếu tính linh hoạt; cơ chế quản lý tài chính khu vực hành chính sự nghiệp còn mang nặng cơ chế "xin - cho" dựa trên biên chế đầu vào.

Chương III: Các giải pháp tăng cường quản lý tài chính công trong thời gian tới

Chương III đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu lực quản lý tài chính công:

  1. Mục tiêu và nguyên tắc đổi mới: Hướng tới xây dựng nền tài chính công phục vụ hiệu quả bộ máy nhà nước, triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô; tạo quyền tự chủ cho các đơn vị sử dụng ngân sách đi đôi với trách nhiệm giải trình.
  2. Tăng cường quản lý nhà nước về thuế và thu thuế: Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế hiện đại, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế; mở rộng cơ sở đánh thuế và áp dụng các biện pháp thanh tra, kiểm tra để hạn chế thất thu.
  3. Đổi mới và hoàn thiện chính sách chi tiêu của Chính phủ:
    • Chuyển đổi căn bản phương thức quản lý tài chính khu vực hành chính sự nghiệp: Chuyển từ quản lý "đầu vào" (biên chế, định mức chi bình quân) sang quản lý "đầu ra" (chất lượng công việc, sản phẩm dịch vụ hoàn thành).
    • Mở rộng quyền tự chủ tài chính, thực hiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính; đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, y tế, vệ sinh công cộng.
    • Thử nghiệm cơ chế Nhà nước đặt hàng, mua sản phẩm dịch vụ công của các đơn vị sự nghiệp theo giá cả phù hợp với chất lượng và tiến độ.
  4. Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước: Bảo đảm vai trò chỉ đạo, tập trung của ngân sách trung ương đối với các nhiệm vụ chiến lược, đồng thời tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho chính quyền địa phương. Sửa đổi thẩm quyền của Quốc hội theo hướng thông qua tổng số thu, chi và định mức chi theo từng lĩnh vực; tương tự, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định phân bổ ngân sách địa phương chi tiết theo lĩnh vực.
  5. Hoàn thiện quy trình quản lý ngân sách nhà nước: Chuẩn hóa các khâu từ lập dự toán, chấp hành ngân sách, thanh quyết toán qua Kho bạc Nhà nước; mở rộng hoạt động kiểm toán nhà nước theo hướng bắt buộc, bảo đảm tính độc lập tương đối của cơ quan Kiểm toán Nhà nước.
  6. Tăng cường khuyến khích đầu tư: Sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách như nguồn vốn mồi để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế kỹ thuật then chốt, khu công nghiệp và ngành mũi nhọn, tạo môi trường thuận lợi để huy động vốn đầu tư từ khu vực tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả khoa học, đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của tài chính công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời phân định ranh giới giữa tài chính công và tài chính doanh nghiệp nhà nước trong hệ thống tài chính quốc gia.

Tiêu chí phân định Tài chính công Tài chính doanh nghiệp nhà nước
Mục đích hoạt động Cung cấp hàng hóa công cộng, thực hiện chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước Sản xuất kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận và bảo toàn, phát triển vốn
Bản chất nguồn thu Thuế, phí, lệ phí, tín dụng công mang tính quyền lực pháp lý, bắt buộc Doanh thu bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và hoạt động tài chính
Phương thức chi tiêu Cấp phát không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi theo dự toán ngân sách Chi phí sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc thị trường và hạch toán kinh tế
Chủ thể quyết định Quốc hội và các cấp chính quyền nhà nước theo luật định Ban điều hành, Hội đồng quản trị doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp

Về mặt quản lý thực tiễn, đề tài thiết lập các nguyên tắc điều hành tài chính vĩ mô:

  • Bội chi ngân sách nhà nước phải được kiểm soát chặt chẽ ở mức an toàn (quanh ngưỡng 3% GDP) để phòng chống lạm phát và ổn định tiền tệ.
  • Chi thường xuyên của bộ máy nhà nước tuyệt đối không được vượt quá nguồn thu từ thuế và phí; các khoản vốn vay nợ (cả trong nước và quốc tế) chỉ được sử dụng cho mục đích chi đầu tư phát triển, không được sử dụng cho tiêu dùng hành chính.
  • Đổi mới phương thức quản lý khu vực công thông qua chuyển đổi từ mô hình kiểm soát yếu tố đầu vào sang đánh giá sản phẩm đầu ra, mở rộng khoán chi và thí điểm cơ chế đấu thầu, đặt hàng dịch vụ công.

Về đóng góp thực tiễn, công trình của Học viện Hành chính Quốc gia đã cung cấp hệ thống luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 (được Quốc hội thông qua bản sửa đổi vào năm 2002), đồng thời đóng góp cơ sở lý luận cho chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, đề tài tập trung chủ yếu vào cấp độ kinh tế vĩ mô đối với hai trục chính là chính sách thuế và chi tiêu ngân sách nhà nước, chưa đi sâu phân tích cơ chế vận hành nội bộ của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và hệ thống định chế tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Về phạm vi thời gian, các chuỗi số liệu thực trạng dừng lại ở giai đoạn 1991-2001 (đánh giá tồn tại đến năm 2002), phản ánh thực trạng trước khi Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi năm 2002 có hiệu lực thực thi.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu kế thừa có thể tập trung vào:

  • Đánh giá tác động thực tế của Luật Ngân sách nhà nước sau khi được sửa đổi đối với cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách.
  • Hoàn thiện khung pháp lý về quy chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập, đặc biệt là cơ chế tính giá dịch vụ sự nghiệp công và lộ trình cắt giảm hỗ trợ ngân sách trực tiếp.
  • Nghiên cứu mô hình kiểm toán hiệu năng (kiểm toán hoạt động) đối với các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án đầu tư công quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Đề tài là tài liệu khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên: Phục vụ học tập và nghiên cứu trong các ngành Quản lý công, Hành chính công, Quản lý tài chính công, Kinh tế phát triển và Luật Kinh tế.
  • Cán bộ hoạch định chính sách và quản lý tài chính: Tham khảo tại các cơ quan của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kho bạc Nhà nước, cơ quan Kiểm toán Nhà nước và Sở Tài chính các địa phương.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Khung lý luận về các trường phái tài chính công trong nền kinh tế hỗn hợp (Chương I); các nguyên tắc thiết kế phân cấp ngân sách trung ương - địa phương và giải pháp chuyển đổi từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra trong khu vực hành chính sự nghiệp (Chương III).

Câu hỏi thường gặp

1. Theo đề tài, tài chính công khác với tài chính nhà nước ở những điểm đặc trưng nào? Tài chính công là một bộ phận của tài chính nhà nước nhưng khác biệt ở ba điểm: thứ nhất, gắn với việc tạo nguồn thu ngân sách qua thuế, phí, lệ phí và tín dụng công (không bao gồm các quỹ tài chính ngoài ngân sách); thứ hai, không gắn với các hoạt động sản xuất kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận; thứ ba, gắn với nhiệm vụ chi tiêu phục vụ các chức năng vốn có của nhà nước, không bao gồm chi tiêu cung ứng hàng hóa thông thường của doanh nghiệp nhà nước.

2. Đề tài chỉ ra những nguyên nhân nào dẫn tới sự "thất bại của chính phủ" trong quản lý kinh tế giai đoạn thập niên 1970-1980? Dựa trên lý thuyết kinh tế học hiện đại, đề tài xác định bốn nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thất bại của chính phủ: thông tin hạn chế, khả năng kiểm soát hạn chế đối với khu vực tư nhân, tính quan liêu của bộ máy hành chính, và sự chậm trễ trong quá trình hiệp thương chính trị dẫn đến ban hành và thực thi chính sách không kịp thời.

3. Nguyên tắc điều hành cân đối ngân sách và sử dụng các khoản vay nợ được đề tài xác lập ra sao? Đề tài xác lập nguyên tắc: chi thường xuyên của Nhà nước không được vượt quá nguồn thu từ thuế và phí, đồng thời phải nằm trong giới hạn kiểm soát; toàn bộ nguồn vốn vay nợ (trong nước và ngoài nước) tuyệt đối không được dùng cho chi tiêu dùng hành chính mà chỉ được bố trí cho chi đầu tư phát triển; bội chi ngân sách nhà nước cần được kiềm chế quanh mức 3% GDP để đảm bảo an toàn vĩ mô.

4. Giải pháp đổi mới quản lý kinh phí tại các cơ quan hành chính nhà nước được đề tài đề xuất như thế nào? Đề tài đề xuất chuyển đổi căn bản từ phương thức quản lý đầu vào (dựa trên kiểm soát chỉ tiêu biên chế và cấp phát kinh phí định mức bình quân) sang phương thức quản lý sản phẩm đầu ra. Đi kèm với đó là việc mở rộng quyền tự chủ tài chính cho các cơ quan, đơn vị thông qua cơ chế khoán kinh phí quản lý hành chính và áp dụng hình thức Nhà nước đặt hàng mua sản phẩm dịch vụ công dựa trên chất lượng và tiến độ hoàn thành.

5. Đề tài sử dụng các công cụ hình học nào để phân tích chức năng phân bổ nguồn lực và phân phối thu nhập? Đề tài sử dụng đường cong giới hạn khả năng và lợi ích Pareto để minh họa chức năng phân bổ nguồn lực và quá trình cải thiện Pareto nhằm đạt hiệu quả kinh tế; đồng thời sử dụng đồ thị đường cong Lorenz để phân tích mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập xã hội trước và sau khi có sự can thiệp điều tiết bằng các chính sách thuế và trợ cấp của Nhà nước.

Kết luận

Đề tài khoa học "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (Mã số: 2000-98-083) của TS. Nguyễn Ngọc Hiến đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận kinh tế học về tài chính công và quản lý tài chính công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Công trình phản ánh khách quan bức tranh thực trạng thu, chi ngân sách và quản lý nợ chính phủ tại Việt Nam trong thập niên 1991-2001, chỉ ra các điểm nghẽn về thể chế và hiệu quả chi tiêu công. Những định hướng giải pháp được đề xuất về phân cấp ngân sách, cải cách chính sách thuế và chuyển đổi sang quản lý kết quả đầu ra có ý nghĩa đóng góp quan trọng cho tiến trình hoàn thiện pháp luật ngân sách và cải cách hành chính nhà nước tại Việt Nam thời kỳ Đổi mới.