Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG LÀM VIỆC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN VỀ CNSH TRONG Y HỌC 1. Hệ thống các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm môi trường làm việc Trong từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng định nghĩa: “Môi trường là nơi xảy ra một hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình, trong quan hệ với hiện tượng, quá trình ấy” [25, 821] .TS Vũ Cao Đàm: “Môi trường là tập hợp của các phần tử thuộc những hệ thống nằm ngoài hệ thống được xem xét và có quan hệ tương tác với hệ thống được xem xét” [9, 26]. Môi trường làm việc là một khái niệm rộng bao gồm tất cả những gì có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và sự phát triển, nâng cao năng lực công tác của mỗi cá nhân, cán bộ, công chức (bao gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài).
Môi trường làm việc đối với cán bộ, công chức được tiếp cận là môi trường bên trong, bao gồm: cơ sở vật chất, tinh thần, chế độ chính sách, mối quan hệ giữa lãnh đạo đối với nhân viên và giữa nhân viên với nhân viên… trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trong đó, môi trường bên trong lại được phân thành môi trường cứng và môi trường mềm. Môi trường cứng bao gồm cơ sở vật chất, văn phòng, thiết bị máy móc… môi trường này phụ thuộc nhiều vào tài chính của tổ chức. Môi trường mềm chính là mối quan hệ giữa người với người trong tổ chức, hay nói cách khác, môi trường mềm thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau giữa mọi thành viên trong tổ chức.
Môi trường làm việc tốt là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của cán bộ, công chức cũng như quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm môi trường làm việc thân thiện Theo từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng, 2009 định nghĩa “Thân thiện là có biểu hiện tỏ ra tử tế và có thiện cảm với nhau” [25, 1190]. Môi trường làm việc thân thiện là môi trường mà ở đó con người đối xử với nhau chan hoà, cởi mở, tôn trọng, luôn quan tâm và sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ với nhau trong mọi hoàn cảnh.
Đồng thời những điều kiện về cơ sở vật chất cũng luôn làm cho người lao động thấy hài lòng và thoải mái. Khái niệm CNSH Công nghệ sinh học là bộ môn tập hợp các ngành khoa học và công nghệ gồm: sinh học phân tử, di truyền học, vi sinh vật học, sinh hóa học, công nghệ học, nhằm tạo ra các quy trình công nghệ khai thác ở quy mô công nghiệp các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào động, thực vật để sản xuất các sản phẩm có giá trị phục vụ đời sống, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Theo Liên đoàn CNSH châu Âu (EFB) thì “CNSH là sự ứng dụng tổng hợp của sinh hoá học, vi sinh vật học và các khoa học về công nghệ để đạt đến sự ứng dụng công nghiệp các năng lực của vi sinh vật, của các tế bào, các tổ chức nuôi cấy và các thành phần của chúng” [24, 5]. Từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng, 2009 định nghĩa: “CNSH là tổng thể nói chung những phương pháp kỹ thuật dùng các bộ phận của cơ thể sống (mô, tế bào,v.)và những quá trình sinh học để sản xuất những sản phẩm cần thiết cho nền kinh tế quốc dân” [25, 282].
Nghị quyết số 18 của Chính phủ về phát triển CNSH ở Việt Nam đến năm 2010 định nghĩa: "CNSH là tập hợp các ngành khoa học (sinh học phân tử, di truyền học, vi sinh vật học, sinh hoá học và công nghệ học) nhằm tạo ra các công nghệ khai thác ở quy mô công nghiệp các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào thực và động vật" [2]. Theo một số tài liệu khác, CNSH được hiểu là quá trình áp dụng các nguyên lý khoa học và kỹ thuật để biến đổi vật chất bằng các tác nhân sinh 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học, nhằm cung cấp sản phẩm và các dịch vụ. Các tác nhân sinh học chính là vi sinh vật, tế bào thực vật và các enzym. Sản phẩm và các dịch vụ chủ yếu của chúng có liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp thực phẩm và dược phẩm.
Ngành khoa học về CNSH bao gồm 5 lĩnh vực chính sau: - Công nghệ vi sinh - Công nghệ enzym - Công nghệ tế bào - Công nghệ gen - Công nghệ tạo giống (tạo giống thuần, ưu thế lai, đột biến cảm ứng…) động thực vật, vi sinh vật và các loại nấm ăn, nấm dược liệu. CNSH được chia làm 3 giai đoạn chính trong sự phát triển: CNSH truyền thống: chế biến các thực phẩm dân dã đã có từ lâu đời như: tương, nước mắm, rượu, giấm, sữa chua, cà muối, pho-mát, men bánh mì. theo phương pháp truyền thống; xử lí đất đai, phân bón để phục vụ nông nghiệp. CNSH cận đại: có sử dụng công nghệ trong quá trình chế biến sản phẩm như việc sử dụng các nồi lên men công nghiệp để sản xuất ở quy mô lớn các sản phẩm sinh hạt như mì chính, acid amin, acid hữu cơ, chất kháng sinh, vitamin, enzym, các loại vaccin, các kit chẩn đoán bệnh truyền nhiễm,.
CNSH hiện đại: chỉ mới xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây. CNSH hiện đại sử dụng các kỹ thuật trao đổi, sửa chữa, tổ hợp hoặc cải tạo vật chất di truyền ở mức độ phân tử để tạo ra những loại vi sinh vật mới hoặc bắt các sinh vật này tạo ra các protein hay các sản phẩm khác mà vốn dĩ chúng ta không tạo ra được như : công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ enzym và protein, công nghệ vi sinh vật, công nghệ lên men, công nghệ môi trường. Ngày nay, CNSH và công nghệ thông tin được coi là làn sóng thứ năm trong lịch sử phát triển của khoa học và công nghệ, trong đó CNSH đang 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, y học. Bằng những kiến thức sinh học về thực vật, động vật, nấm, vi khuẩn.
và sử dụng “công nghệ DNA tái tổ hợp”, các nhà khoa học đang cố gắng tạo ra những cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, những loại thực phẩm, dược phẩm phục vụ con người. Ở nước ta, CNSH cũng được nhà nước xem là một trong ba ngành khoa học công nghệ ưu tiên cùng với điện tử- tin học và vật liệu mới. Tuy nhiên, ngành công nghệ sinh học của Việt Nam hiện đang ở trình độ thấp so với thế giới. Chỉ thị 50 khẳng định: Công nghệ sinh học hiện đại của nước ta vẫn đang ở tình trạng lạc hậu so với một số nước trong khu vực và nhiều nước trên thế giới, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao mức sống của nhân dân.
Công nghiệp sinh học chậm phát triển, chưa tạo ra được các sản phẩm chủ lực cho nền kinh tế quốc dân. Mặc dù vậy, trong những năm gần đây với sự đầu tư một số phòng thí nghiệm trọng điểm và một đội ngũ cán bộ được cử đi đào tạo tại một số nước tiên tiến, ngành công nghệ sinh học của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu trong lai tạo giống cây trồng và vật nuôi, trong nuôi cấy mô, sản xuất một số vắc xin, nuôi cấy tế bào, bảo quản da và công nghệ sản xuất màng sinh học trong điều trị bênh nhân bỏng,… Như vậy, tiếp sau CN thông tin, CNSH là một ngành đang phát triển hết sức mạnh mẽ, mở ra rất nhiều triển vọng cho nghiên cứu và ứng dụng phục vụ phát triển kinh tế có quy mô. Các nước có điều kiện phát triển đều đang triển khai hết sức mạnh mẽ CNSH trong nền kinh tế quốc dân, dựa trên cơ sở lựa chọn những lĩnh vực phù hợp với thế mạnh và điều kiện cụ thể của mình. Khái niệm CNSH trong y học CNSH trong y học là việc ứng dụng các kỹ thuật trong công nghệ sinh học vào trong các lĩnh vực của y học nhằm chẩn đoán, phòng bệnh và điều trị bệnh.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong chẩn đoán như các xét nghiệm vi khuẩn lao, viêm gan, sốt xuất huyết, sán lá gan… Trong phòng bệnh như sản xuất vaccine Trong điều trị một số bệnh như: ung thư, nhiễm virut… Ngoài ra, theo một số quan điểm khác cho rằng CNSH trong y học: - Là các ứng dụng sinh học trực tiếp nhằm vào các vấn đề y học (Is applied biology directed towards problems in medicine) [29]. - Là sử dụng các kỹ thuật trong công nghệ sinh học để phát triển các sản phẩm mà có thể cải thiện sức khoẻ của con người (The application of biological research techniques to the development of products which improve human health) [39]. - Là sự lựa chọn các kỹ thuật mà lợi dụng các thuộc tính của tế bào như là khả năng sinh trưởng của chúng và các phân tử sinh học như AND và protein để làm việc cho chúng. Công nghệ sinh học sẽ cải thiện khả năng của chúng ta đối với: chữa bệnh dựa vào hệ gen của từng người, ngăn ngừa, chuẩn đoán và chữa trị tất cả các loại bệnh tật hơn là việc chữa trị theo các biện pháp thông thường (Is a collection of technologies that capitalize on the attributes of cells, such as their manufacturing capabilities, and out biological molecules, such as DNA and proteins to work for us.
Biotechnology will help improve our ability to:customize therapies based on individual genomics; prevent, diagnose, and treat all types of diseases rather than rely on rescue therapy) [3]. Những ứng dụng của CNSH trong y học được phân thành hai loại: 1. Những ứng dụng có liên quan đến việc thao tác các tế bào, mô, bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể (chẳng hạn như sinh sản được hỗ trợ, kỹ thuật mô và nhân bản vô tính). Những ứng dụng liên quan tới việc nhận dạng sự thực thi chức năng, ở cấp phân tử của ADN, protein và enzym và mối quan hệ của chúng với sự phát sinh bệnh tật lẫn sức khoẻ.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày nay, CNSH hầu như đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực của y học trong đó đáng kể nhất là lĩnh vực chẩn đoán và phòng ngừa với việc tạo ra các bộ kit chẩn đoán bệnh bằng phương pháp PCR và các DNA vaccine có hiệu quả cao.