Tổng quan nghiên cứu

Trong bức tranh văn hóa đa dạng của 54 dân tộc Việt Nam, mối quan hệ giao lưu giữa văn hóa Kinh và văn hóa Tày giữ vị trí trung tâm, có chiều dài lịch sử hàng trăm năm. Theo thống kê của nhà nghiên cứu Lục Văn Pảo, trong kho tàng 47 truyện thơ Nôm Tày được ghi nhận, có ít nhất 6 tác phẩm mượn cốt truyện từ truyện thơ Nôm Kinh. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam của tác giả Chu Hải Yến, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Quốc Tuấn tại Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên năm 2020, tập trung giải quyết vấn đề bản chất của hiện tượng song hành cốt truyện này.

Mục tiêu cụ thể của công trình là phân tích, đối chiếu hệ thống 3 cặp tác phẩm tiêu biểu gồm Tổng Tân - Cúc Hoa, Thạch Seng, Phạm Tử - Ngọc Hoa với các bản Nôm Kinh tương ứng là Tống Trân - Cúc Hoa, Thạch Sanh, Phạm Tải - Ngọc Hoa. Khảo sát trên tổng dung lượng 5.934 câu thơ Nôm Tày, luận văn làm sáng tỏ quá trình chuyển hóa văn hóa diễn ra tại không gian miền núi phía Bắc, đặc biệt là vùng đất Cao Bằng, trong giai đoạn lịch sử từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XX.

Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu được xác lập qua việc chứng minh cơ chế tiếp nhận văn học không phải là sự sao chép cơ học một chiều. Tác động lan tỏa của đề tài thể hiện qua việc nâng cao nhận thức học thuật về năng lực tái tạo nghệ thuật của trí thức Tày, khẳng định vị thế độc lập và giá trị thẩm mỹ đặc sắc của văn học các dân tộc thiểu số trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation) theo định nghĩa của UNESCO tại hội nghị Teheran năm 1978, xem đây là quá trình tiếp xúc trực tiếp, liên tục giữa các nhóm văn hóa dẫn đến sự biến đổi mô thức văn hóa của cả hai chủ thể. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết thi pháp học văn học trung đại Việt Nam của Giáo sư Trần Đình Sử và mô hình vận động văn học theo hai khuynh hướng "hướng tâm" và "ly tâm" do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn đề xuất.

Bốn khái niệm cốt lõi được xây dựng xuyên suốt công trình gồm: tiếp biến văn học, tính quy phạm nghệ thuật, tính ước lệ tượng trưng và cốt truyện liên dân tộc. Nghiên cứu cũng tích hợp quan niệm tam giáo đồng nguyên (Nho giáo với thuyết phi ngã, Phật giáo với thuyết vô ngã, Đạo giáo với thuyết vong ngã) để lý giải quá trình kiến tạo nhân vật trong văn học trung đại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu chính của đề tài là hệ thống văn bản dịch chú chữ Nôm Tày xuất bản năm 2008 và 2010 do nhóm tác giả Hoàng Triều Ân, Dương Nhật Thanh, Phạm Quốc Tuấn thực hiện, đối sánh cùng bộ tư liệu Kho tàng truyện Nôm khuyết danh Việt Nam gồm 2 tập do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2000.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 3 tác phẩm Nôm Tày đại diện cho 100% nhóm truyện thơ Tày có cùng cốt truyện với truyện Nôm Kinh đã được dịch thuật hoàn chỉnh sang chữ quốc ngữ. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) nhằm chọn lọc những văn bản có tính điển hình cao nhất về dung lượng và giá trị nghệ thuật.

Luận văn kết hợp 5 phương pháp phân tích chính:

  1. Phương pháp so sánh đối chiếu liên văn bản nhằm tìm ra điểm tương đồng và dị biệt.
  2. Phương pháp loại hình học để định vị thể loại truyện thơ.
  3. Phương pháp phân tích - tổng hợp văn bản học.
  4. Phương pháp tiếp cận thi pháp học trung đại.
  5. Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học, lịch sử và dân tộc học.

Quy trình khảo cứu và xử lý tư liệu được thực hiện liên tục trong thời gian 24 tháng trước khi hoàn thiện và bảo vệ thành công vào tháng 10 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng và định tính trên hệ thống văn bản mang lại 3 phát hiện khoa học quan trọng:

  • Sự gia tăng vượt trội về dung lượng và chi tiết hóa tình tiết: Tác phẩm Tổng Tân - Cúc Hoa bản Tày dài 3.002 câu thơ thất ngôn, tăng thêm 1.307 câu (tương đương mức tăng khoảng 77,1%) so với bản Tống Trân - Cúc Hoa của người Kinh vốn chỉ có 1.695 câu lục bát. Tác phẩm Thạch Seng đạt dung lượng 2.005 câu và Phạm Tử - Ngọc Hoa đạt 927 câu. Người Tày đã bổ sung các trường đoạn độc lập như đoạn 8 trong Tổng Tân - Cúc Hoa, cụ thể hóa tên gọi nhân vật phụ (như đổi tên người lái hương thành Mai Hương, đình trưởng thành Trương Đình, sơn tinh thành Lý Vì).

  • Chuyển đổi toàn diện hệ thống thể loại và thi luật: 100% tác phẩm Nôm Kinh sử dụng thể thơ lục bát truyền thống của người Việt, trong khi 100% tác phẩm Nôm Tày tương ứng được tái cấu trúc hoàn toàn sang thể thơ thất ngôn trường thiên - thể thơ bản địa phù hợp với ngữ điệu và lối diễn xướng Then, Lượn của đồng bào vùng cao.

  • Bản địa hóa không gian thẩm mỹ và hệ thống biểu tượng nghệ thuật: Tác giả Nôm Tày đưa thiên nhiên núi rừng Việt Bắc vào tác phẩm, thay thế các điển tích hoa cỏ ước lệ vùng đồng bằng bằng biểu tượng hoa bản địa như hoa vặc viền (hoa chúa vách đá), hoa ban chủ. Nhân vật Thạch Seng được xác định rõ quê quán tại quận Cao Bình (nay thuộc huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của quá trình tiếp biến văn học bắt nguồn từ biến cố lịch sử kéo dài 85 năm (1592 - 1677) khi triều đình nhà Mạc dời đô lên cát cứ tại Cao Bằng trải qua 3 đời vua Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Vũ. Sự di cư của tầng lớp quý tộc, văn nhân và nghệ nhân miền xuôi đã tạo ra không gian tiếp xúc văn hóa dày đặc giữa người Kinh và người Tày.

Về mặt chủ thể sáng tác, nghiên cứu khẳng định tác giả truyện thơ Nôm Tày không phải là người bình dân truyền miệng mà là đội ngũ trí thức nho sĩ bản tộc tinh thông chữ Hán và chữ Nôm Tày. Họ đã thực hiện quá trình "Tày hóa" tích truyện để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của cộng đồng bản địa. Kết quả này có thể được trực quan hóa qua biểu đồ so sánh tương quan số lượng câu thơ và bảng đối chiếu hệ thống danh xưng nhân vật, giúp người đọc nhận diện rõ ràng quy mô sáng tạo của các tác giả người Tày.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy giá trị của công trình nghiên cứu và bảo tồn di sản văn học dân tộc, 4 giải pháp chiến lược được đề xuất:

  • Đẩy mạnh số hóa và phiên âm toàn diện 100% kho tàng 47 tác phẩm truyện thơ Nôm Tày hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các thư viện quốc gia trong giai đoạn 2024 - 2028, do Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam chủ trì.

  • Tích hợp chuyên đề Văn học so sánh Kinh - Tày vào 100% chương trình đào tạo cử nhân ngành Sư phạm Ngữ văn và Văn học tại các trường đại học sư phạm trên toàn quốc, bắt đầu áp dụng từ năm học 2025.

  • Biên soạn và xuất bản tuyển tập đối chiếu song ngữ Kinh - Tày cho 3 cặp tác phẩm truyện thơ lớn với số lượng 3.000 bản in trước năm 2026, phục vụ hệ thống thư viện công cộng và trường học vùng cao.

  • Thiết lập định kỳ 2 năm một lần các hội thảo học thuật quốc gia về bảo tồn chữ Nôm của các dân tộc thiểu số, do Đại học Thái Nguyên phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh miền núi phía Bắc tổ chức.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam: Cung cấp khung lý thuyết so sánh liên văn bản và nguồn dẫn liệu đối sánh chuẩn xác cho các công trình nghiên cứu văn học trung đại.

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Văn hóa học, Ngữ văn: Hỗ trợ tài liệu tham khảo trực tiếp cho hơn 15 chuyên đề học phần về văn học dân gian, văn học các dân tộc thiểu số và thi pháp học.

  • Các nhà nghiên cứu dân tộc học và bảo tồn di sản văn hóa: Giúp nắm bắt quy luật giao lưu văn hóa trong cộng đồng 54 dân tộc, vận dụng các dữ liệu lịch sử 85 năm triều Mạc tại vùng Đông Bắc để phục vụ công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể.

  • Giáo viên Ngữ văn tại các trường THPT vùng trung du và miền núi: Vận dụng tư liệu để giảng dạy các bài học văn học địa phương theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, giúp học sinh nâng cao lòng tự hào về di sản văn hóa dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt lớn nhất giữa truyện thơ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Kinh là gì?

Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở hình thức thể loại và cảm quan thẩm mỹ. Truyện thơ Nôm Kinh sử dụng thể thơ lục bát với tư duy thẩm mỹ đồng bằng, trong khi bản Nôm Tày chuyển hóa hoàn toàn sang thể thất ngôn trường thiên, mang đậm không gian núi rừng và biểu tượng hoa cỏ bản địa.

Sự kiện lịch sử nào thúc đẩy mạnh mẽ nhất sự giao thoa văn học Kinh - Tày?

Giai đoạn 85 năm nhà Mạc đóng đô tại Cao Bằng (1592 - 1677) là tiền đề lịch sử quan trọng nhất. Sự hiện diện lâu dài của triều đình nhà Mạc đã đưa văn hóa, văn tự và nghệ thuật miền xuôi hòa quyện sâu sắc với đời sống văn hóa bản địa của người Tày.

Ai là tác giả thực sự của các truyện thơ Nôm Tày?

Tác giả của truyện thơ Nôm Tày là tầng lớp trí thức, nho sĩ bản tộc người Tày. Để sáng tác và ghi chép các tác phẩm dài hàng nghìn câu thơ bằng chữ Nôm Tày, người viết bắt buộc phải được đào tạo bài bản về chữ Hán và quy tắc cấu tạo chữ Nôm.

Vì sao dung lượng tác phẩm Nôm Tày thường dài hơn bản Nôm Kinh?

Bản Nôm Tày dài hơn do tác giả chủ động bổ sung các tình tiết diễn giải, cụ thể hóa xuất thân nhân vật và miêu tả chi tiết diễn biến tâm lý, ngoại cảnh nhằm đáp ứng thị hiếu nghe kể truyện thơ trong các sinh hoạt cộng đồng của người Tày.

Ý nghĩa của biểu tượng hoa vặc viền trong văn bản Nôm Tày là gì?

Hoa vặc viền là loài hoa linh thiêng mọc trên vách đá theo quan niệm của người Tày. Đưa hình tượng hoa vặc viền vào tác phẩm giúp lý tưởng hóa vẻ đẹp tinh khiết, thanh cao của người phụ nữ miền núi thay cho các quy ước thẩm mỹ kinh điển của văn học người Kinh.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 3 cặp truyện thơ Nôm Kinh - Tày có cùng cốt truyện, làm sáng rõ quy luật giao lưu văn hóa liên dân tộc.
  • Khẳng định quá trình tiếp biến văn học từ Kinh sang Tày là hành vi sáng tạo nghệ thuật độc lập mang tính tái sinh văn bản, không phải phiên dịch cơ học.
  • Xác lập vai trò trung tâm của giai đoạn 85 năm nhà Mạc cát cứ tại Cao Bằng đối với tiến trình hội nhập văn hóa vùng Đông Bắc.
  • Đóng góp nguồn ngữ liệu văn bản học giá trị, thúc đẩy công tác nghiên cứu 47 di sản truyện thơ Nôm Tày trong bối cảnh học thuật hiện đại.
  • Định hướng lộ trình nghiên cứu mở rộng sang các thể loại diễn xướng dân gian giai đoạn 2025 - 2030, kêu gọi các nhà khoa học tiếp tục khai thác kho tàng văn tự cổ của các dân tộc thiểu số Việt Nam.