Tổng quan nghiên cứu

Trong bức tranh văn hóa đa dạng của 54 dân tộc anh em tại Việt Nam, mối quan hệ giao lưu giữa văn hóa người Kinh và người Tày giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Kho tàng văn học dân tộc Tày sở hữu quy mô đồ sộ với 47 tác phẩm truyện thơ Nôm đã được thống kê, trong đó có một nhóm tác phẩm tiêu biểu mang cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Kinh. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ việc các công trình trước đây chịu nhiều rào cản về chữ Nôm Tày và ngôn ngữ bản tộc, dẫn đến cái nhìn giản đơn rằng truyện Nôm Tày chỉ là sự sao chép hoặc chuyển ngữ thụ động từ truyện Nôm người Kinh.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu, đối chiếu toàn diện 3 cặp tác phẩm truyện thơ Nôm Tày và Nôm Kinh có cùng cốt truyện trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Đề tài tập trung xác định phạm vi thời gian từ thời kỳ trung đại thế kỷ XVI đến thế kỷ XX, gắn liền với không gian địa bàn cư trú của người Tày tại vùng núi phía Bắc mà trọng tâm là tỉnh Cao Bằng.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình được định lượng thông qua việc giải mã khối dữ liệu văn bản với hơn 5.930 câu thơ Nôm Tày đối chiếu cùng hơn 4.200 câu thơ Nôm Kinh. Luận văn đã chứng minh quá trình tiếp biến văn hóa mang tính hai chiều, khẳng định vai trò chủ động và năng lực sáng tạo độc đáo của trí thức Nho sĩ Tày trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa được định hình tại cuộc họp của tổ chức UNESCO năm 1978 ở Teheran, kết hợp với các định nghĩa văn hóa học chuẩn mực tại Việt Nam. Tiếp biến văn hóa được hiểu là quá trình tương tác trực tiếp, lâu dài giữa hai chủ thể dẫn tới sự biến đổi về mô thức biểu đạt nhưng không làm mất đi căn cước văn hóa gốc.

Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa trên hệ thống lý thuyết thi pháp học văn học trung đại của các học giả chuyên ngành, tập trung vào hai khái niệm đối sánh: dòng văn học hướng tâm và dòng văn học ly tâm. Bốn khái niệm chính được xây dựng xuyên suốt công trình gồm:

  • Văn tự Nôm Tày: Hệ thống chữ viết ghi âm tiếng bản tộc dựa trên chất liệu chữ Hán và chữ Nôm Kinh.
  • Thể thơ thất ngôn trường thiên: Thể thơ bảy chữ kéo dài, phương tiện biểu đạt chủ đạo của truyện Nôm Tày.
  • Tiếp biến văn học: Hiện tượng dung nạp cốt truyện ngoại lai và tái cấu trúc theo thị hiếu thẩm mỹ tộc người.
  • Tính quy phạm và ước lệ tượng trưng: Hệ thống biểu trưng nghệ thuật phản ánh thế giới quan thẩm mỹ của con người trung đại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích trên cỡ mẫu gồm 3 cặp tác phẩm truyện thơ Nôm Kinh và Nôm Tày có cùng cốt truyện:

  • Cặp tác phẩm thứ nhất: Tổng Tân - Cúc Hoa gồm 3.002 câu thơ Nôm Tày đối sánh với Tống Trân - Cúc Hoa gồm 1.695 câu thơ lục bát Nôm Kinh.
  • Cặp tác phẩm thứ hai: Phạm Tử - Ngọc Hoa gồm 927 câu thơ Nôm Tày đối sánh với Phạm Tải - Ngọc Hoa gồm 932 dòng thơ Nôm Kinh.
  • Cặp tác phẩm thứ ba: Thạch Seng gồm 2.005 câu thơ Nôm Tày đối sánh với tác phẩm Thạch Sanh của người Kinh.

Lý do lựa chọn phương pháp so sánh loại hình và tiếp cận thi pháp học là nhằm bóc tách cấu trúc vi mô của từng văn bản, từ đó phân tích sự sai biệt về thi luật, tuyến nhân vật và mã thẩm mỹ. Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học kết hợp lịch sử và dân tộc học được áp dụng để soi chiếu giai đoạn 85 năm nhà Mạc định đô tại Cao Bằng (1592 - 1677) tác động đến quá trình giao lưu ngôn ngữ. Nguồn dữ liệu sơ cấp được trích xuất từ các bản phiên âm chữ Nôm Tày do Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ kết hợp cùng công trình sưu tầm giai đoạn 2008 - 2010 của nhóm tác giả chuyên gia văn hóa Tày.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát văn bản đã đưa ra những phát hiện học thuật quan trọng:

Thứ nhất, truyện thơ Nôm Tày là một công trình tái sáng tạo nghệ thuật độc lập chứ không phải bản dịch cơ học. Điển hình như tác phẩm Tổng Tân - Cúc Hoa đạt dung lượng 3.002 câu, tăng thêm 1.307 câu thơ (tương đương mức gia tăng khoảng 77,1% dung lượng văn bản) so với bản Nôm Kinh 1.695 câu. Tác giả người Tày bổ sung trọn vẹn đoạn thứ 8 và định danh hóa các nhân vật vô danh thành những cái tên cụ thể như Mai Hương, Trương Đình và Lý Vì.

Thứ hai, có sự thay đổi hoàn toàn về hình thức thể loại từ thể thơ lục bát của người Kinh sang thể thơ thất ngôn trường thiên của người Tày. 100% văn bản Nôm Tày được ghi chép bằng hệ thống chữ Nôm Tày, cho thấy trình độ trước tác văn bản thành văn hoàn chỉnh của đội ngũ Nho sĩ miền núi.

Thứ ba, không gian nghệ thuật và biểu tượng cái đẹp mang đậm dấu ấn sinh thái vùng cao. 100% hình tượng nhân vật nữ chính như Cúc Hoa, Ngọc Hoa, Quỳnh Nga đều được ước lệ qua biểu tượng hoa vặc viền (loài hoa chúa trên vách núi) và thiên nhiên non nước Cao Bình, thay thế cho các mẫu hình quy ước tao nhã chốn đồng bằng.

Thứ tư, sự dị biệt sâu sắc về mục đích tiếp nhận ở phần kết truyện. Trong khi 100% bản Nôm Kinh hướng về mục tiêu giải trí sau giờ lao động nhàn rỗi ("thong thả thư trai"), thì cả 3 tác phẩm Nôm Tày đều hướng đến việc giáo huấn đạo đức cộng đồng và lưu truyền muôn đời ("đặt truyện cho ngày sau sẽ đọc").

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của hiện tượng tiếp biến xuất phát từ biến cố lịch sử thế kỷ XVI. Khi nhà Mạc rút lên Cao Bằng duy trì vương triều kéo dài 85 năm (1592 - 1677) qua 3 đời vua Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan và Mạc Kính Vũ, nền văn hóa cung đình miền xuôi đã hòa nhập sâu rộng vào đời sống cư dân bản địa. Các Nho sĩ và trí thức bản tộc đã tiếp thu các tích truyện miền xuôi nhưng chủ động tái cấu trúc để phù hợp với tâm thức sử thi vùng cao.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình cột thể hiện sự chênh lệch số lượng câu thơ giữa hai hệ thống văn bản (bản Tày 3.002 câu so với bản Kinh 1.695 câu ở truyện Tống Trân; bản Tày 2.005 câu ở truyện Thạch Seng). Song song đó, bảng ma trận phân tích 5 chiều sẽ làm rõ sự đối sánh về: Thể thơ (Lục bát đối sánh Thất ngôn trường thiên), Hệ thống nhân vật (Phiếm chỉ đối sánh Cụ thể hóa), Không gian nghệ thuật (Đồng bằng đối sánh Miền núi), Biểu tượng cái đẹp (Mây liễu đối sánh Hoa vặc viền) và Đích hướng tiếp nhận (Giải trí đối sánh Giáo huấn trường tồn).

So sánh với các nhận định của các công trình công bố năm 1981 và 1992, kết quả của luận văn đã nâng tầm đánh giá truyện thơ Nôm Tày từ hình thức văn học dân gian truyền miệng lên vị thế của một nền văn học viết bác học có bản sắc độc lập.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Triển khai chương trình số hóa toàn diện 47 văn bản truyện thơ Nôm Tày lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các thư viện địa phương, hoàn thành trước năm 2028 dưới sự điều phối của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm đạt tỷ lệ bảo tồn tư liệu gốc trên 95%.
  • Đưa nội dung so sánh văn học Kinh - Tày qua 3 cặp tác phẩm tiêu biểu vào chương trình giáo dục địa phương và giáo trình Ngữ văn bậc đại học tại 100% các trường đại học sư phạm vùng Trung du và Miền núi phía Bắc trong giai đoạn 2026 - 2030.
  • Thành lập đề án đào tạo chuyên gia dịch thuật văn tự Nôm Tày tại Đại học Thái Nguyên, đặt mục tiêu bồi dưỡng tối thiểu 30 chuyên gia biên dịch cổ văn bản địa trong vòng 5 năm tới.
  • Xuất bản các bộ ấn phẩm đối sánh song ngữ Nôm Tày - Quốc ngữ với quy mô hơn 10.000 bản in, phát hành trực tiếp tới hệ thống thư viện trường học tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 2027 đến năm 2029.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu Văn học Việt Nam, Văn hóa học: Cung cấp khung lý thuyết tiếp biến văn hóa và nguồn dữ liệu đối sánh văn bản học xác thực cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn: Nắm bắt phương pháp nghiên cứu thi pháp học so sánh loại hình và quy trình giải mã tác phẩm văn học viết của các dân tộc thiểu số.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và bảo tồn di sản tại các tỉnh miền núi phía Bắc: Ứng dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể và định hình chính sách bảo tồn chữ Nôm Tày.
  • Biên kịch và nghệ sĩ sáng tạo nội dung: Khai thác kho tàng hình tượng nhân vật giàu chất sử thi như Thạch Seng, Tổng Tân để chuyển thể thành các tác phẩm kịch nghệ, truyện tranh và hoạt hình đậm chất văn hóa dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

Truyện thơ Nôm Tày có phải là tác phẩm văn học dân gian truyền miệng thuần túy không? Không. Luận văn đã chứng minh truyện thơ Nôm Tày là tác phẩm văn học viết bác học do tầng lớp Nho sĩ người Tày am hiểu chữ Hán và chữ Nôm sáng tác bằng văn tự Nôm Tày theo thể thất ngôn trường thiên chuẩn mực.

Vì sao dung lượng của truyện thơ Nôm Tày lại dài hơn đáng kể so với bản Nôm Kinh? Tác giả người Tày đã đưa thêm các tình tiết phản ánh phong tục tập quán miền núi, mở rộng lời thoại tâm lý nhân vật và chi tiết hóa bối cảnh đời sống thực tế, ví dụ tác phẩm Tổng Tân - Cúc Hoa dài hơn bản Kinh tới 1.307 câu thơ.

Giai đoạn lịch sử nào thúc đẩy mạnh mẽ nhất quá trình giao lưu văn học giữa người Kinh và người Tày? Thời kỳ 85 năm nhà Mạc định đô tại đất Cao Bình, Cao Bằng (1592 - 1677) là bối cảnh lịch sử quyết định đưa tầng lớp trí thức, ca công và văn hóa miền xuôi lên hòa quyện cùng văn hóa bản tộc.

Cốt truyện Thạch Seng của người Tày có phải bắt nguồn hoàn toàn từ người Kinh không? Nghiên cứu chỉ ra đây là hiện tượng giao thoa hai chiều dựa trên mô-típ dũng sĩ diệt đại bàng phổ biến tại Đông Nam Á, kết hợp cùng truyện tích đánh Dạ Đìn bản địa tại Cao Bằng, tạo nên sự bổ sung qua lại giữa hai nền văn học.

Quy ước miêu tả vẻ đẹp phụ nữ trong truyện thơ Nôm Tày có điểm gì khác biệt so với văn học Kinh? Thay vì dùng các hình tượng ước lệ cổ điển như khuôn trăng nét ngài, tác giả người Tày sử dụng biểu tượng hoa vặc viền trên vách núi đá để miêu tả làn da trắng muốt và nét đẹp tinh khôi của người con gái vùng cao.

Kết luận

  • Luận văn xác lập cơ sở khoa học chứng minh mối quan hệ giao lưu - tiếp biến bình đẳng và hai chiều giữa văn học người Kinh và văn học người Tày thời trung đại.
  • Khẳng định truyện thơ Nôm Tày là thành tựu văn học viết bác học, thể hiện tài năng sáng tạo độc lập và tư duy nghệ thuật riêng biệt của trí thức bản tộc.
  • Làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử 85 năm của nhà Mạc tại Cao Bằng như một động lực then chốt thúc đẩy sự ra đời của dòng truyện thơ Nôm Tày.
  • Chỉ ra bước chuyển dịch thi pháp từ thể lục bát sang thể thất ngôn trường thiên cùng hệ thống hình tượng mang đậm bản sắc núi rừng.
  • Đóng góp nguồn tư liệu so sánh văn bản chính xác với hơn 5.930 câu thơ Nôm Tày, mở ra hướng tiếp cận liên ngành văn học - dân tộc học.

Định hướng nghiên cứu tiếp theo trong giai đoạn 2026 - 2030 cần tập trung vào việc dịch thuật và số hóa toàn bộ kho tàng văn tự Nôm Tày còn lại. Các nhà nghiên cứu, giảng viên và bạn đọc quan tâm có thể khai thác trực tiếp luận văn để làm sâu sắc thêm nhận thức về diện mạo đa dạng của nền văn học Việt Nam thống nhất.