Luận văn thạc sĩ ueh mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoán với khối lượng giao dịch nghiên cứu ở ttck việt nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoán với khối lượng giao dịch nghiên cứu ở ttck việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

109
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. CÁC LÝ THUYẾT NỀN

1.2. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mô tả dữ liệu và phép tính các biến

2.2. Phương pháp kinh tế lượng

2.3. Thống kê mô tả

2.4. Tính dừng và kiểm định nghiệm đơn vị

2.5. Kiểm định nghiệm đơn vị

2.6. Kiểm định nhân quả Granger

2.7. Mô hình ARCH

2.8. Mô hình GARCH

2.9. Kiểm định Ljung–Box

2.10. Kiểm định Wald

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

3.1. Kiểm định nghiệm đơn vị

3.2. Thống kê mô tả

3.3. Mối quan hệ đồng thời

3.4. Ước lượng bằng phương pháp OLS

3.5. Kết quả hồi quy bằng phương pháp OLS

3.6. Kiểm tra sự tự tương quan của các phương trình hồi quy

3.7. Kiểm định ảnh hưởng ARCH

3.8. Ước lượng bằng mô hình ARCH

3.9. Ước lượng bằng mô hình GARCH(1,1)

3.10. Kết quả ước lượng bằng mô hình GARCH(1,1)

3.11. Kiểm tra sự tự tương quan các mô hình GARCH(1,1)

3.12. Kiểm định sự phù hợp của mô hình GARCH(1,1)

3.13. Kiểm định nhân quả Granger

3.14. Lựa chọn độ trễ tối ưu

3.15. Kết quả kiểm định nhân quả Granger

3.16. Kiểm định nhân quả Granger giữa sự thay đổi giá chứng khoán (Rt) và khối lượng giao dịch (Vt)

3.17. Kiểm định nhân quả Granger giữa sự thay đổi giá chứng khoán (Rt) và sự thay đổi trong khối lượng giao dịch (Tt)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mối Quan Hệ Giữa Thay Đổi Giá Chứng Khoán Và Khối Lượng Giao Dịch

Mối quan hệ giữa sự thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong những năm qua. Động cơ xuất phát từ nỗ lực để đo lường và mô hình sự biến động của tỷ suất sinh lợi của các tài sản tài chính. Khối lượng được chứng minh là một phần quan trọng trong định giá tài sản tài chính dưới sự ảnh hưởng của thông tin. Do thông tin mới xuất hiện, các nhà đầu tư có thể điều chỉnh kỳ vọng của họ và điều này là nguyên nhân chính làm biến động giá và ngược lại.

1.1. Các Lý Thuyết Nền Tảng Về Mối Quan Hệ Giá Khối Lượng

Nhiều lý thuyết đã được đề xuất để giải thích mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch. Giả thuyết hỗn hợp các phân phối (MDH) cho rằng khối lượng giao dịch có thể là một đại diện của thông tin mới đến. Theo đó, sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch phản ứng cùng một lúc với sự xuất hiện của những thông tin mới.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giá Khối Lượng

Nghiên cứu mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc thị trường mà còn hỗ trợ các nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định. Việc kiểm định mối quan hệ này có thể giúp nâng cao sự hiểu biết về thị trường chứng khoán Việt Nam.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giá Khối Lượng

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định tính chính xác của mối quan hệ này. Các nghiên cứu trước đây thường gặp khó khăn trong việc thu thập dữ liệu và áp dụng các phương pháp phân tích phù hợp.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Thu Thập Dữ Liệu

Việc thu thập dữ liệu chính xác về khối lượng giao dịchthay đổi giá chứng khoán là một thách thức lớn. Dữ liệu không đầy đủ hoặc không chính xác có thể dẫn đến những kết luận sai lệch trong nghiên cứu.

2.2. Sự Phức Tạp Trong Phân Tích Dữ Liệu

Phân tích mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch đòi hỏi các phương pháp phân tích phức tạp như mô hình GARCH. Sự phức tạp này có thể làm khó khăn cho các nhà nghiên cứu trong việc đưa ra kết luận chính xác.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giá Khối Lượng Hiệu Quả

Để nghiên cứu mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch, các phương pháp như kiểm định nhân quả Granger và mô hình ARCH/GARCH thường được sử dụng. Những phương pháp này giúp xác định mối quan hệ đồng thời và nhân quả giữa hai biến.

3.1. Kiểm Định Nhân Causal Granger

Kiểm định nhân quả Granger giúp xác định xem một biến có thể dự đoán được biến khác hay không. Trong nghiên cứu này, kiểm định này được áp dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch.

3.2. Mô Hình ARCH GARCH Trong Phân Tích

Mô hình ARCH/GARCH được sử dụng để phân tích sự biến động của thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch. Mô hình này cho phép kiểm tra sự tồn tại của mối quan hệ đồng biến giữa hai biến.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Mối Quan Hệ Giá Khối Lượng Tại Thị Trường Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Các kiểm định cho thấy rằng khối lượng giao dịch có tác động đến sự thay đổi giá chứng khoán trong tương lai.

4.1. Kết Quả Kiểm Định Nhân Causal Granger

Kết quả kiểm định nhân quả Granger cho thấy có quan hệ nhân quả một chiều từ thay đổi giá chứng khoán đến khối lượng giao dịch. Điều này cho thấy rằng sự thay đổi giá có thể dự đoán được khối lượng giao dịch trong tương lai.

4.2. Phân Tích Kết Quả Mô Hình GARCH

Mô hình GARCH cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch vẫn bảo toàn sau khi tính đến phương sai của sai số thay đổi. Điều này cho thấy rằng thông tin từ khối lượng giao dịch có ảnh hưởng đến sự thay đổi giá chứng khoán.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giá Khối Lượng

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch tại thị trường chứng khoán Việt Nam đã chỉ ra rằng có sự tồn tại của mối quan hệ đồng biến và nhân quả. Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách.

5.1. Ý Nghĩa Của Nghiên Cứu Đối Với Nhà Đầu Tư

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch, giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn trong giao dịch.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng để xem xét các yếu tố khác ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoánkhối lượng giao dịch, từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về thị trường chứng khoán Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh mối quan hệ giữa thay đổi giá chứng khoán với khối lượng giao dịch nghiên cứu ở ttck việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN   1. CÁC LÝ THUYẾT NỀN Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây cho thấy một mối quan hệ đồng thời đồng biến giữa khối lượng giao dịch và sự thay đổi giá. Điều này cho thấy các thị trường này có tính thanh khoản nơi mà các nhà giao dịch có thể dễ dàng tham gia hay thoát khỏi thị trường (Clark, 1973; Tauchen and Pitts, 1983). Sự hợp lý của quan hệ đồng biến này có thể được tìm thấy trong mô hình cung và cầu cơ bản, nghĩa là một sự thay đổi trong cầu gây ra một sự thay đổi giá.

Theo Chen et al. Nói chung, cả hai giả thuyết MDH và SAIH ủng hộ một mối quan hệ đồng thời đồng biến giữa khối lượng giao dịch và sự thay đổi giá thuần tuý. Giả thuyết hỗn hợp các phân phối (MDH) được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1973 bởi Clark (1973) và tiếp tục được phát triển bởi Epps and Epps (1976), Tauchen and Pitts (1983), và Harris (1986). Giả thuyết này cho thấy khối lượng giao dịch có thể là một đại diện của thông tin mới đến (Clark, 1973; Epps and Epps, 1976).

Clark (1973) cho rằng giá trị của sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch được phân phối độc lập với nhau. Ngoài ra, số lượng thông tin đến trong một thời điểm là khác nhau. Giá chứng khoán và khối lượng giao dịch có tương quan dương bởi vì phương sai của sự thay đổi giá ở một giao dịch riêng lẻ có mối quan hệ đơn điệu đến khối lượng của giao dịch đó. Tất cả tác giả đều cho rằng sự thay đổi giá và khối lượng là cùng phụ thuộc vào thông tin do yếu tố phân phối chung của chúng, có nghĩa là khối lượng giao dịch và sự thay đổi giá phản ứng cùng một lúc với sự xuất hiện của những thông tin mới.

Lamoureux and Lastrapes (1990) cũng cho thấy một tương quan chuỗi hỗn hợp các biến đo lường tốc độ thông tin đến thị trường giúp giải thích ảnh hưởng GARCH trong sự thay đổi giá. Theo đó, khối lượng giao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 dịch được coi như là sự giải thích trong phương trình phương sai có điều kiện loại bỏ các ảnh hưởng GARCH. Giả thuyết thông tin đến một cách tuần tự (SAIH) được đề xuất bởi Copeland (1976), và sau đó được mở rộng bởi Jennings et al. (1981), là tồn tại một mối quan hệ nhân quả hai chiều đồng biến giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch.

SAIH cho rằng những thông tin mới đến thị trường thì không được phổ biến cho tất cả người tham gia thị trường cùng một lúc, việc phổ biến thông tin là tuần tự từ người này sang người khác, nói cách khác thông tin là bất cân xứng. Sự cân bằng thông tin cuối cùng được hình thành chỉ sau một chuỗi các trung gian hoặc những cân bằng chuyển tiếp đã xảy ra. Do đó, do sự nối tiếp của các dòng chảy thông tin, tỷ suất sinh lợi quá khứ có thể có khả năng dự đoán khối lượng giao dịch hiện tại, và ngược lại. Hiemstra and Jones (1994) lập luận rằng một luồng chảy thông tin tuần tự là kết quả của khối lượng giao dịch quá khứ có khả năng dự đoán sự thay đổi giá thuần hiện tại, và sự thay đổi giá quá khứ có khả năng dự đoán khối lượng hiện tại.

Khi nhà giao dịch nhận được thông tin, anh/cô ta sẽ phản ứng với thông tin mới đến và do đó tạo ra một mối quan hệ đồng biến giữa khối lượng và tỷ suất sinh lợi/sự thay đổi giá (Copeland, 1976; Jennings et al. Mối quan hệ giữa sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch cũng được giải thích bằng mô hình giao dịch gây nhiễu/ giao dịch ồn (noise-trader model) của De Long et al. Mô hình này cho rằng các hoạt động của những người giao dịch nhiễu (noise trader) là nguyên nhân một sự trệch giá tạm thời của giá cổ phiếu trong ngắn hạn. Vì những người giao dịch nhiễu không quan tâm đến các thông tin cơ bản và nền tảng (phân tích cơ bản), mà chủ yếu dựa trên cảm tính hoặc xu hướng chung của thị trường.

Trong mô hình này, mối quan hệ nhân quả đồng biến từ sự thay đổi giá đến khối lượng giao dịch là phù hợp với chiến lược giao dịch theo xu hướng thị trường của các nhà giao dịch nhiễu, những người ra quyết định dựa trên sự biến động giá trong quá khứ. Một mối quan hệ nhân quả đồng biến từ khối lượng đến sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thay đổi giá phù hợp với giả thuyết cho rằng sự thay đổi giá là do bị tác động bởi những nhà giao dịch nhiễu. Khi thị trường tồn tại chủ yếu những người giao dịch nhiễu thì những người tham gia am hiểu về phân tích cơ bản cũng khó có thể cưỡng lại chiều hướng vận động của thị trường. Nếu thị trường hoạt động hiệu quả thì những người giao dịch nhiễu sẽ giúp làm tăng tính thanh khoản cho thị trường và không bóp méo giá trị của các chứng khoán.

Trên thực tế, một thị trường mà không có những người giao dịch nhiễu sẽ thì thị trường có xu hướng đổ vỡ, bởi vì giá cả trên thị trường đó sẽ bị tiết lộ hoàn toàn. Những nhà đầu tư có đầy đủ thông tin sẽ không tham gia thị trường nếu trong thị trường đó không có các nhà đầu tư không có đủ thông tin, bởi vì việc tạo ra lợi nhuận nhờ buôn bán trong một thị trường hoàn toàn hiệu quả là không thể. Các nhà đầu tư có đủ thông tin cần sự tồn tại của những người giao dịch nhiễu để che giấu các vụ làm ăn của họ, và bằng việc buôn bán thông tin chỉ họ biết, các nhà đầu tư khôn ngoan này sẽ tạo ra lợi nhuận. Thông qua việc mua bán thông tin, các nhà đầu tư có đủ thông tin dần dần tung ra các thông tin liên quan về giá cả các loại hàng hóa và cùng với những người giao dịch nhiễu, họ đem lại trạng thái cân bằng cho thị trường.

Ngoài ra, Lakonishok and Smidth (1989) cho thấy khối lượng hiện tại có thể có liên quan đến sự thay đổi giá chứng khoán trong quá khứ bởi các động cơ giao dịch có liên quan và không liên quan đến thuế. Do đó quan hệ năng động (nguyên nhân) cho các động cơ giao dịch liên quan đến thuế là nghịch biến, trong khi động cơ giao dịch không liên quan đến thuế là đồng biến. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ sự thay đổi giá chứng khoán và khối lượng giao dịch là rộng lớn và hỗn hợp. Vì các tài liệu cũ hơn đã được khảo sát bởi Karpoff (1987), nghiên cứu này sẽ tập trung vào các nghiên cứu gần đây, đặc biệt là các nghiên cứu ở thị trường mới nổi.

Những nghiên cứu này cũng cung cấp bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chứng hỗn hợp. Trong khi hầu hết trong số chúng đưa ra bằng chứng cho quan hệ nhân quả hai chiều, ủng hộ cho giả thuyết thông tin đến một cách tuần tự (SAIH), một số bằng chứng khác ủng hộ giả thuyết hỗn hợp các phân phối (MDH). Sau đây là một mô tả ngắn gọn của một số các nghiên cứu gần đây. Đối với các thị trường chứng khoán phát triển: Smirlock and Starks (1988) nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ nhân quả Granger giữa sự thay đổi giá chứng khoán và khối lượng giao dịch của các công ty thuộc S&P500 tại Sở giao dịch chứng khoán New York, sử dụng dữ liệu hàng ngày từ ngày 15/06 đến ngày 21/08/1981.

Các kết quả từ mô hình GARCH hai chiều cho thấy rằng có một mối quan hệ đồng biến giữa hai biến. Kết quả cũng tìm thấy quan hệ nhân quả Granger một chiều từ sự thay đổi giá đến khối lượng giao dịch trên thị trường Mỹ. Jacobs and Onochie (1998) cũng tập trung vào mối quan hệ giữa sự thay đổi tỷ suất sinh lợi và khối lượng giao dịch trên thị trường giao sau. Họ đã sử dụng mô hình GARCH ở giá trị trung bình hai chiều (bivariate GARCH-M) để kiểm định dữ liệu hàng ngày của sáu hợp đồng giao sau được giao dịch trên LIFFE.

Các kết quả cũng ủng hộ mối quan hệ đồng biến giữa khối lượng giao dịch và sự thay đổi giá. Hiemstra and Jones (1994) áp dụng kiểm định nhân quả tuyến tính và phi tuyến ở thị trường chứng khoán Mỹ và tìm thấy bằng chứng của quan hệ nhân quả Granger một chiều từ tỷ suất sinh lợi chứng khoán Dow Jones đến phần trăm thay đổi trong khối lượng giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán New York, nhưng quan trọng hơn, họ tìm thấy quan hệ nhân quả phi tuyến hai chiều có ý nghĩa giữa tỷ suất sinh lợi và khối lượng giao dịch. Họ cũng tìm thấy bằng chứng về quan hệ nhân quả phi tuyến từ khối lượng giao dịch đến tỷ suất sinh lợi sau khi điều chỉnh sự biến động lâu bền trong tỷ suất sinh lợi. Lee and Rui (2000) nghiên cứu mối quan hệ đồng thời và quan hệ nhân quả giữa khối lượng giao dịch, tỷ suất sinh lợi chứng khoán và sự biến động tỷ suất sinh lợi ở bốn Sở giao dịch chứng khoán tại Trung Quốc.

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ngày từ ngày 12/12/1990 đến ngày 31/12/1997 cho Shanghai A Index; từ ngày 21/02/1992 đến ngày 31/12/1997 cho Shanghai B Index; từ ngày 30/09/1992 đến ngày 31/12/2997 cho Shenzhen A Index; và từ ngày 06/010/1992 đến ngày 31/12/1997 cho Shenzhen B Index. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ đồng thời đồng biến giữa khối lượng giao dịch và tỷ suất sinh lợi trên tất cả bốn thị trường tại Trung Quốc. Nghiên cứu cũng sử dụng mô hình GARCH(1,1), kết quả cho thấy mối quan hệ đồng thời đồng biến giữa khối lượng giao dịch và tỷ suất sinh lợi bảo toàn khi tính đến phương sai của sai số thay đổi. Nghiên cứu cũng sử dụng mô hình VAR với năm độ trễ thêm vào mô hình GARCH để kiểm định tác động của độ trễ khối lượng giao dịch và sự biến động tỷ suất sinh lợi cho hai chỉ số giá chứng khoán của Trung Quốc.

Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng khối lượng giao dịch không tác động nhân quả Granger lên tỷ suất sinh lợi chứng khoán tại các thị trường Trung Quốc. Hơn nữa, khi kiểm định ảnh hưởng của thị trường chéo, họ tìm thấy rằng tỷ suất sinh lợi thị trường Mỹ và Hồng Kông giúp dự đoán tỷ suất sinh lợi chứng khoán Shanghai A và B trong khi khối lượng giao dịch thị trường Mỹ và Hồng Kông không có ảnh hưởng đến khối lượng giao dịch ở các thị trường Trung Quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ