Chương 1 là nhằm đánh giá một cách tổng quan về tình hình nghiên cứu chất lượng kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán. Trong đó, tác giả đặc biệt đề cập đến kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố quản trị doanh nghiệp với chất lượng kiểm toán. Và qua đó, chúng ta có thể thấy được hiện nay có rất ít nghiên cứu tìm hiểu và cho biết về mối quan hệ này ở các nước đang phát triển. Và đặc biệt ở Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả thì tới thời điểm này vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện và công bố.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Chất lƣợng kiểm toán và đo lƣờng chất lƣợng kiểm toán 2. Khái niệm chất lượng kiểm toán Chất lượng kiểm toán không còn là khái niệm mới trong phạm vi kiểm toán. Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng kiểm toán; tuy nhiên có rất ít sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu về định nghĩa này.
Và cho đến nay, thuật ngữ "chất lượng kiểm toán" vẫn còn là một chủ đề phức tạp và là vấn đề tranh luận giữa các nhà nghiên cứu. Định nghĩa chất lượng kiểm toán được sử dụng rộng rãi nhất là của DeAngelo (1981); tác giả xem "chất lượng dịch vụ kiểm toán như là sự đánh giá của thị trường về khả năng mà một kiểm toán viên nhất định sẽ vừa (a) phát hiện ra một sai phạm trong hệ thống kế toán của khách hàng và (b) báo cáo sai phạm đó. Trong đó, khả năng phát hiện sai phạm phụ thuộc vào khả năng và năng lực của kiểm toán viên trong việc thực hiện kiểm soát chất lượng thông tin được báo cáo thông qua việc đảm bảo sự phù hợp với GAAP, trong khi báo cáo sai phạm thì có liên quan đến tính độc lập của kiểm toán viên. Nhiều nhà nghiên cứu sau đó sử dụng cách tiếp cận kép này để định nghĩa thêm về chất lượng kiểm toán chi tiết trong năng lực và sự độc lập, trong khi nhiều người khác coi nó là nền tảng để xác định các thuộc tính khác chất lượng kiểm toán.
Ví dụ, Seyyed (2012) cung cấp giải thích thêm rằng chất lượng kiểm toán có thể là một chức năng về khả năng của kiểm toán viên để phát hiện sai sót trọng yếu và báo cáo sai sót đó. Cùng với các định nghĩa tương tự, tất cả đều nhấn mạnh đến hai khía cạnh quan trọng nhất của chất lượng kiểm toán, đó là năng lực kiểm toán hoặc sự nỗ lực của kiểm toán viên, và sự độc lập của kiểm toán viên. Do đó, dòng định nghĩa này chủ yếu là nói về chất lượng của kiểm toán viên. Một dòng định nghĩa khác về chất lượng kiểm toán tập trung vào tính chính xác của thông tin được báo cáo bởi các kiểm toán viên.
Titman và Trueman (1986, trích dẫn ở Behn và Choi 2008) cho thấy rằng chất lượng kiểm toán cao sẽ cải thiện độ tin cậy của thông tin báo cáo tài chính và cho phép các nhà đầu tư ước tính chính xác hơn giá trị của công ty. Palmrose (1988) lại xem chất lượng kiểm toán là một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 mức độ bảo đảm, đảm bảo báo cáo tài chính không chứa đựng những sai sót trọng yếu. Schauer (2002) cũng cho rằng "một cuộc kiểm toán chất lượng cao sẽ làm tăng khả năng mà báo cáo tài chính phản ánh chính xác hơn tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị được kiểm toán ". Nói cách khác, chất lượng kiểm toán là một phần của chất lượng thông tin kế toán được công bố (Clinch 2010).
Bên cạnh đó, một tập hợp các định nghĩa khác cũng tập trung vào mức độ kiểm toán phù hợp với các tiêu chuẩn kiểm toán áp dụng. Bedard et al. (2010) định nghĩa một cuộc kiểm toán chất lượng cao là một cuộc kiểm toán "phù hợp các tiêu chuẩn kiểm toán được chấp nhận rộng rãi để đảm bảo hợp lý rằng các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và các thông tin liên quan được trình bày phù hợp các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung và không có sai sót trọng yếu do những lỗi hoặc gian lận". Defond và cộng sự (2010) cũng đưa ra quan điểm tương tự trong bài nghiên cứu của ông.
Trong khi Duff (2004) tiếp cận chất lượng kiểm toán từ khía cạnh khác khi cho rằng “ chất lượng kiểm toán bao gồm chất lượng kỹ thuật và chất lượng dịch vụ (mức độ hài lòng của khách hàng và đáp ứng yêu cầu của họ). Chất lượng kỹ thuật liên quan đến khả năng, danh tiếng, chuyên môn, quy mô, tính độc lập và kinh nghiệm của kiểm toán viên, trong khi chất lượng dịch vụ được xác định bởi phản ứng đồng cảm của khách hàng đối với dịch vụ kiểm toán. Ở Việt Nam nói riêng, chất lượng kiểm toán chưa có một định nghĩa cụ thể và rõ ràng nào trong bất kỳ nghiên cứu nào. Tuy nhiên, trong chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 220 lại cho rằng: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”.
Như vậy, qua việc tổng hợp xem xét các định nghĩa chất lượng kiểm toán trong những nghiên cứu trước đây, chúng ta có thể thấy rằng có hai quan điểm chính về chất lượng kiểm toán được hình thành. Theo quan điểm thực hành, chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 lượng kiểm toán được đánh giá theo mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán. Nó có thể được xem xét dưới ba góc độ sau đây, và đây cũng được xem như là các tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng kiểm toán: + Một là, mức độ thoả mãn của người sử dụng thông tin đối với tính khách quan và độ tin cậy của ý kiến kiểm toán; bởi kết quả kiểm toán có ảnh hưởng đến các quyết định quản lý và đầu tư của họ. Và bất kỳ một sai lệch nào trong ý kiến kiểm toán đều có thể dẫn đến những hậu quả lớn, làm mất niềm tin của khách hàng đối với hoạt động kiểm toán.
+ Hai là, mức độ đơn vị được kiểm toán thoả mãn về những phát hiện, ý kiến đóng góp của kiểm toán viên nhằm mục đích hoàn hiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính kế toán của đơn vị. + Ba là, báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong hợp đồng kiểm toán và chi phí dịch vụ kiểm toán ở mức hợp lý. Và tất nhiên, báo cáo kiểm toán đó trước hết phải là sản phẩm của sự tuân thủ các qui định của chuẩn mực kiểm toán và pháp luật hiện hành. Trong khi đó, dựa trên quan điểm khoa học về kiểm toán, chất lượng kiểm toán đước đánh giá bởi khả năng phát hiện các sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính và báo cáo các sai sót đó của kiểm toán viên.
Và trong nghiên cứu này, chất lượng kiểm toán được tác giả đề cập được định nghĩa dựa trên quan điểm thứ hai này. Đo lường chất lượng kiểm toán Đo lường chất lượng kiểm toán là một vấn đề khá khó khăn và còn nhiều tranh cãi bởi vì định nghĩa chất lượng kiểm toán là không đồng nhất, nó được xem xét theo những quan điểm khác nhau và do đó sẽ không có bất kỳ một phương pháp đo lường nào được chấp nhận chung. Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều đại diện đo lường khác nhau trong nổ lực đánh giá chất lượng kiểm toán. Các đại diện đo lường này có thể được hiểu là các yếu tố, chỉ số, hành vi hoặc nhận thức có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với chất lượng kiểm toán và chúng có thể được phân loại thành các đại diện đo lường chất lượng kiểm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 toán dựa trên các yếu tố đầu vào yếu tố và đầu ra của quy trình kiểm toán (Defond and Zhang 2014).
Trong nghiên cứu này của mình, tác giả chỉ tập trung xem xét một số đại diện đo lường chất lượng kiểm toán phổ biến thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây: 2. Đo lường chất lượng kiểm toán dựa trên các yếu tố đầu vào: Phương pháp đo lường dựa trên các yếu tố đầu vào đánh giá chất lượng kiểm toán bằng việc sử dụng các yếu tố đầu vào có thể quan sát được của quy trình kiểm toán. DeFond & Zhang (2014) đã phân phương pháp đo lường dựa trên những yếu tố đầu vào này thành hai nhóm: (1) Các đặc điểm riêng biệt của kiểm toán viên và (2) phí kiểm toán. Trong nhóm các đại diện đặc điểm riêng biệt của kiểm toán viên, quy mô công ty và uy tín công ty được đo bởi nhóm Big N (hiện nay là Big 4) thường được sử dụng để đo lường chất lượng kiểm toán.
Một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên ủng hộ tầm quan trọng của đại diện này là DeAngelo (1981). Bởi vì các công ty kiểm toán lớn và có uy tín được mong đợi có năng lực mạnh hơn, cũng như được khuyến khích nhiều hơn để cung cấp chất lượng kiểm toán cao (DeAngelo, 1981). Với quy mô của họ, các kiểm toán viên của Big N có thể tiếp cận các nguồn lực tốt hơn liên quan đến công nghệ, đào tạo và cơ sở vật chất (Chaney và cộng sự, 2004, Craswell và cộng sự, 1995. Francis và cộng sự, 1999.
Khurana và Raman 2004). Các kiểm toán viên của Big N được cho là độc lập hơn so với các công ty kiểm toán nhỏ bởi vì họ (i) phải chịu rủi ro về uy tín lớn hơn nếu như họ cẩu thả; (ii) ít phụ thuộc hơn vào doanh thu của khách hàng cá nhân và do đó ít có khả năng bị ảnh hưởng bởi một khách hàng cá nhân; và (iii) cơ sở thu nhập lớn hơn của họ làm họ càng có nguy cơ kiện tụng cao hơn (Palmrose 1988, Stice 1991, Bonner và cộng sự, 1990, Skinner và Srinivasan 2012, Koh và cộng sự 2013, DeFond và Zhang 2014). Một đại diện phổ biến khác được sử dụng đó là tính chuyên môn hóa của kiểm toán viên thường được đo bằng sự tập trung của các khách hàng trong cùng một ngành.