Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dân số và phát triển giáo dục. Chương 2: Thực trạng phát triển và mối quan hệ giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục ở tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 – 2016 Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dân số và giáo dục tỉnh Bình Dương đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 1. Cơ sở lý luận về phát triển dân số và phát triển giáo dục 1.
Các khái niệm về phát triển và chỉ số đo sự phát triển a. Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế - Tăng trưởng kinh tế: là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định, tức là sự tăng lên của tổng thu nhập quốc gia (GNI) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc mức tăng của tổng thu nhập quốc dân hoặc tổng sản phẩm trong nước tính theo đầu người (GNI/người, GDP/người) (Nguyễn Minh Tuệ, 1996). Số liệu về tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được công bố trong niên giám thống kê cả nước và các tỉnh, thành phố. - Phát triển kinh tế: Nội dung của khái niệm phát triển kinh tế khá rộng, mang tính tổng hợp, vừa thể hiện số lượng vừa chú ý đến chất lượng, vừa bao hàm nhân tố kinh tế vừa bao hàm cả nhân tố xã hội – môi trường.
Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về một mặt của nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế. Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển kinh tế được xem như là một quá trình biến đổi cả lượng và chất, nó là một sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005). Một cách tổng hợp hơn, phát triển kinh tế là sự tăng trưởng (GNI/người và GDP/người) cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế, sự tham gia của các dân tộc, quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên, những chuyển biến đáng kể về mức tiêu dùng, điều kiện y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và phúc lợi.
10 Đề tài luận văn nghiên cứu phát triển kinh tế với hai khía cạnh: tăng trưởng GDP và GDP/người, sự thay đổi về cơ cấu kinh tế và những thay đổi giáo dục. Phát triển kinh tế (trong đó có cả khía cạnh xã hội) thể hiện được những nội dung cơ bản là sự tăng lên về quy mô nền kinh tế, làm tăng thêm số lượng của cải vật chất, sự biến đổi tích cực cơ cấu kinh tế, tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lí và sự đáp ứng nhu cầu của xã hội về điều kiện giáo dục. Chỉ số kinh tế - Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra bởi các yếu tố sản xuất trong lãnh thổ kinh tế của một nước trong một thời kỳ nhất định (Nguyễn Kim Hồng, 1995). - Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product) Tổng sản phẩm quốc dân GNP là tổng giá trị (tính bằng đô la Mỹ) của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà nền kinh tế sản xuất ra và tiêu dùng trong một thời gian nhất định (thường là một năm), không kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia (Nguyễn Kim Hồng, 1995).
Kỳ vọng sống hay tuổi thọ trung bình Kỳ vọng sống là một ước lượng số năm trung bình của một người sinh ra có khả năng sống được. Tuổi thọ trung bình không tính tới những trường hợp chết không bình thường (do tai nạn, do chiến tranh) (Nguyễn Kim Hồng, 2001). Kỳ vọng sống là một trong các chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển kinh tế, mức thu nhập, điều kiện y tế, chăm sóc sức khoẻ của một quốc gia và chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các điều kiện sau: điều kiện sống, các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, vào tỷ suất tử vong trẻ em nhất là tỷ suất tử vong của trẻ sơ sinh. Kỳ vọng sống và thu nhập quốc dân/người tỷ lệ thuận với nhau ở từng nhóm nước.
Những nước có thu nhập quốc dân/người thấp thì kỳ vọng sống thấp và ngược lại những nước có thu nhập quốc dân/người cao thì kỳ vọng sống cũng cao. Trình độ biết đọc, biết viết của dân cư Biết đọc, biết viết (biết chữ) là khả năng đọc và viết một đoạn văn đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày bằng tiếng quốc ngữ, tiếng dân tộc hoặc tiếng nước ngoài 11 (Phương pháp lồng ghép dân số và KHHGĐ, 2005). Tỷ lệ biết chữ là một trong những số đo chung nhất phản ánh đầu ra của giáo dục, được định nghĩa là số % những người biết chữ của một độ tuổi nhất định trong tổng dân số của độ tuổi đó (Lâm Huỳnh Hải Yến, 2013). Các nhà kinh tế học cổ điển phương Tây đều có những nhận định sâu sắc về giá trị con người nếu được giáo dục đào tạo, C.Mác là người đi đầu trong hệ thống các quan điểm này và xây dựng luận điểm: “Lao động lành nghề là bội số của lao động giản đơn, sự phát triển của giáo dục sẽ tạo ra lao động lành nghề cho kinh tế sản xuất”.
Nhà kinh tế học người Nga X.Strumillim trong những năm 20 của thế kỷ này đã chứng minh bằng thực tiễn: “Bỏ một đồng vốn vào phổ cập giáo dục sẽ tạo ra sự sinh lợi gấp 4 lần cho nền kinh tế”. Alvin Toffler, nhà tương lai học của Mỹ đã nói: “Những người mù chữ của thế kỷ XXI này không phải là những người không biết đọc biết viết, mà là những kẻ không biết học tập để gạt bỏ những kiến thức cũ kỹ mà học lại”. Chính ông cho rằng: “Thế chiến thứ 3 sẽ diễn ra trên mặt trận giáo dục. Nó sẽ làm thay đổi cơ bản phương hướng phát triển của nền văn minh nhân loại, sẽ phát triển mạnh mẽ tính ham học của con người.
Ai chậm chân trên hướng này sẽ không đuổi kịp bước tiến bộ chung của nhân loại” (Nguyễn Kim Hồng, 1995). Chỉ số nhân khẩu học và dư lợi dân số Nhân khẩu học là nghiên cứu khoa học về dân số. Các nhà nhân khẩu học tìm hiểu các mức độ và xu hướng của quy mô dân số cùng những thành phần của nó. Họ tìm cách giải thích sự biến đổi nhân khẩu học và những tác động của chúng đối với xã hội.
Họ sử dụng các cuộc tổng điều tra dân số, các ghi chép sinh và chết, các cuộc điều tra, các ghi chép cấp thị thực, họ sắp xếp các dữ liệu ấy thành dạng dễ sử dụng như tổng số, tỷ suất hoặc tỷ số… Chỉ số nhân khẩu học vừa có ý nghĩa kinh tế vừa có ý nghĩa xã hội trong quá trình phát triển. Một đất nước có quy mô dân số ổn định, cơ cấu và sự phân bố hợp lý, chất lượng dân số tốt thì tạo sự bền vững của quá trình phát triển. Như vậy có thể coi dân số là mẫu số của quá trình phát triển. Dư lợi dân số hay “cơ cấu dân số vàng” là thuật ngữ dùng để phản ánh một dân số có tỷ lệ người trong độ tuổi 15 – 64 đạt tối 12 đa và tỷ lệ người phụ thuộc đạt giá trị tối thiểu, qua ngưỡng đó thì tỷ số phụ thuộc tăng trở lại.
Đây là thời kỳ duy nhất trong quá trình quá độ dân số. Nếu quốc gia đó có kế hoạch sử dụng hiệu quả nguồn lao động sẽ tạo ra nguồn của cải vật chất lớn cho xã hội tạo sức bật cho phát triển kinh tế, ngược lại nếu không tận dụng được cơ hội này, khi tỷ số phụ thuộc tăng trở lại, dân số sẽ già đi và gánh nặng về an sinh xã hội lại tăng thêm. Các nhà khoa học cho rằng một dân số đạt được cơ cấu dân số vàng nếu tỷ số phụ thuộc chung đạt mức sắp xỉ 50, nghĩa là cứ 100 người lao động thì có khoảng 50 người phụ thuộc. Giai đoạn cơ cấu dân số vàng kéo dài từ 30-40 năm.
Hiện nay Việt Nam đang bước vào giai đoạn cơ cấu dân số vàng (từ 2005 đến 2042) (Nguyễn Đình Cử, 2011). Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dân số và phát triển giáo dục a. Vị trí địa lí Vị trí địa lí có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển dân số và phát triển giáo dục của một quốc gia, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập như hiện nay. Yếu tố này tạo nên khả năng để trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các lãnh thổ.
Những nơi có vị trí địa lí thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất thì dân cư đông đúc; ngược lại những nơi có vị trí địa lí không thuận lợi thì dân cư thưa thớt. Vị trí xa hay gần các trung tâm văn hóa, giáo dục sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cả quy mô và chất lượng giáo dục. Các nhân tố tự nhiên Các nhân tố tự nhiên của một khu vực dù lớn hay nhỏ đều ít nhiều ảnh hưởng đến dân số và giáo dục. Chúng giữ vai trò thông qua việc tạo ra những điều kiện sống tốt hay không của dân cư.
Tác động của nhân tố tự nhiên được thể hiện qua một số đặc điểm sau: địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, sinh vật, khoáng sản. Đây là điều kiện thường xuyên, cần thiết, tạo khả năng cho quá trình sản xuất và là tài sản quý báu của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dân số và phát triển giáo dục ở các khía cạnh như điều kiện cư trú của người dân, chất lượng môi trường sống, khả năng khai thác các tài nguyên làm nguồn sống cho con người. Các nhân tố kinh tế – xã hội Là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến phát triển dân số và phát triển giáo dục. Tác động của chúng thể hiện qua các mặt chính: - Tính chất nền kinh tế: Sự phân bố dân cư phụ thuộc chặt chẽ vào tính chất nền kinh tế.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp đòi hỏi dân cư tập trung đông hơn hoạt động sản xuất nông nghiệp.