Chương 1 CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LỢI ÍCH, MỐI QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH VẬT CHẤT VÀ LỢI ÍCH TINH THẦN 1. CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LỢI ÍCH 1. Khái lược quan điểm trước Mác về lợi ích Đời người là chuỗi liên tiếp các hành vi và hoạt động khác nhau. Vậy đâu là nguyên nhân, là nguồn thúc đẩy hoạt động của con người? Đây là vấn đề trăn trở của nhân loại từ ngàn đời nay.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học đã tìm nhiều cách khác nhau để giải thích về vai trò, vị trí, bản chất, nguồn gốc và động lực của những hoạt động rất đa dạng và phong phú của con người, đã đề cập đến vai trò, vị trí của lợi ích ở những góc độ khác nhau. Ở phương Đông, nhà triết học cổ đại Trung Quốc Hàn Phi coi lợi ích là cơ sở của tất cả các mối quan hệ xã hội và mọi hành vi của con người. Theo ông, bản chất ích kỷ của con người là ham mê lợi ích, tránh hại, cầu lợi. Vì vậy tất cả mọi điều thiện, điều ác, sự hỗn loạn, nạn chiến tranh.
đều bắt nguồn từ lợi ích vật chất mà ra. Ở phương Tây, trong triết học Hy Lạp cổ đại, Platon xem ý niệm “lợi ích” (đồng nghĩa với hạnh phúc, cái có lợi.) là ý niệm tối thượng, và quy các phẩm hạnh của nhà nước và công dân về nó. Còn Arixtôt khi nghiên cứu phạm trù “lợi ích” đã gắn liền với phạm trù “mục đích” và “chuẩn mực”. Ông cho rằng mục đích chính là nguồn gốc và yếu tố kích thích hoạt động của con người, vì mục đích luôn gắn với lợi ích cụ thể.
Còn chuẩn mực là cái được thừa nhận phổ biến, trở thành thước đo hành vi. Do đó mục đích – lợi ích – chuẩn mực trở thành những tính quy định cơ bản trong đời sống xã hội. Và trong luân lý Phật giáo hay Thiên chúa giáo, lợi ích được đề cập đến thông qua những lời khuyên nhủ con người từ bỏ mọi lạc thú trần gian, đè nén dục vọng xác thịt, hy sinh mọi lợi ích chính đáng của cá nhân con người nơi trần thế để đổi lấy sự siêu thoát chốn Thiên đường. Còn Nho giáo lại ràng buộc con người theo lợi ích duy nhất của ông Vua, một dòng họ.
Nó phê phán tâm lý con người hướng về điều lợi, coi điều lợi là xấu, là 6 ác, đối lập lợi với nghĩa, đòi hỏi con người phải giữ nghĩa và bỏ lợi. Nhưng đây là một thứ “nghĩa” trá hình, thực chất nó là cái lợi của tầng lớp thống trị. Theo dòng thời gian, các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII đã giải thích đời sống xã hội bằng lợi ích nhằm chống lại chiêu bài “vị tha” lừa bịp của chế độ phong kiến và nhà thờ. Theo họ, sẽ là vô ích nếu chỉ đòi hỏi con người bất cứ cái gì với danh nghĩa duy nhất là nghĩa vụ, bởi vì hành động của con người không phải là tự do mà tuân theo sự tất yếu của tự nhiên, trước hết là tuân theo sự tác động của lợi ích.
Cho nên các nhà duy vật thế kỷ XVIII đã đối lập lợi ích của con người với những điều kiện định trước của thần thánh, cũng như với những hoàn cảnh ngẫu nhiên của quá trình lịch sử. Họ coi lợi ích là cơ sở hiện thực của đạo đức, của chính trị, của chế độ xã hội. Tuy nhiên, họ lại cường điệu vai trò của lợi ích theo hướng, như Helvétius viết: “Nếu như thế giới vật lý phục tụng quy luật vận động, thì thế giới tinh thần cũng phục tùng quy luật của lợi ích. Trên trái đất, lợi ích là người có phép thần thông vạn năng làm biến đổi hình dáng của mọi sự vật theo ý kiến của tất cả mọi sinh linh” [53, 18].
Holbach cũng viết: “Muốn rằng con người phải có phẩm hạnh thì nó phải có quyền lợi” [60, 54]. Rất tiếc là các nhà duy vật thế kỷ XVIII đã không vượt ra khỏi khuôn khổ duy tâm về đời sống xã hội, xem lợi ích xã hội là tổng số giản đơn các lợi ích cá nhân, còn bản thân lợi ích cá nhân thì lại suy ra từ bản tính cảm tính trừu tượng của con người. Hêghen là người có công trong việc phát triển lý luận về lợi ích. Tiếp theo Cantơ, ông nhấn mạnh rằng không thể quy lợi ích về cảm tính thô thiển, về bản tính tự nhiên của con người.
“Nếu xét kỹ lịch sử, chúng ta thấy rõ rằng hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ, từ sự ham muốn của họ, từ lợi ích của họ, và chỉ những cái đó mới đóng vai trò chủ yếu” [53, 69]. Con người “tìm cách thỏa mãn lợi ích của mình, nhưng nhờ vậy mà còn thực hiện được cái xa hơn, cái ẩn dấu trong các lợi ích nhưng không được họ nhận thức và không nằm trong ý định của họ” [53, 69]. Nhưng do đứng trên lập trường duy tâm, ông quan niệm mọi sự biến đổi của xã hội chỉ xảy ra trong ý thức con người. Các nhà không tưởng đã gắn nhu cầu với lợi ích và muốn đặt con người vào “tình thế” như thế nào để lợi ích cá nhân con người và lợi ích xã hội luôn luôn được kết hợp với nhau.
Xanh-xi-mông đã mong muốn dựa vào sự hoàn thiện dần dần của đạo đức con người để thực hiện kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội. 7 Như vậy, vấn đề lợi ích đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm chứ không phải đến khi chủ nghĩa Mác ra đời nó mới được đặt ra. Tuy nhiên, các nhà triết học trước Mác vì đứng trên những quan điểm, lập trường duy tâm về xã hội họ đã không giải thích đúng nguồn gốc, bản chất thật sự của lợi ích. Họ cũng chưa nhìn nhận lợi ích với tư cách là một trong những phạm trù cơ bản của triết học xã hội.
Mặc dù vậy các nhà triết học trước Mác đã có công rất lớn trong việc phát hiện ra vai trò của lợi ích trong hoạt động của con người và của đời sống xã hội. Nhưng nhìn chung, tất cả họ đều hiểu lợi ích là cái có ích, có lợi và thường thiên cái có ích, có lợi về mặt vật chất, về lợi ích kinh tế nhằm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu vật chất của cá nhân con người. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về lợi ích Kế thừa những tư tưởng tiến bộ của các nhà triết học tiền bối về lợi ích, chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra bản chất của lợi ích với tư cách là một phạm trù: gắn liền với hoạt động của con người, là một quan hệ khách quan và là động lực của lịch sử cũng như đó là một phạm trù động. Trong triết học Mác - Lênin, cách hiểu về lợi ích gắn liền với cách hiểu về con người như chủ thể của hoạt động.
Đó là con người nhận thức và cải tạo thế giới đồng thời cải tạo chính bản thân mình. Tính tích cực và sáng tạo là đặc trưng chủ yếu vốn có của con người với tư cách là chủ thể.Lênin “khái niệm ấy, tức con người, là khuynh hướng tự mình thực hiện, tự cho mình, qua bản thân mình một cách khách quan và tự hoàn thành chính mình” [22, 21]. Nói một cách khác chỉ có tác động vào tự nhiên và xã hội thì con người mới tự bộc lộ mình như là một chủ thể lịch sử. Có thể cho rằng, chủ thể – đó là đại biểu lịch sử cụ thể của hoạt động thực tiễn định hướng đến chiếm lĩnh khách thể.
Mọi chủ thể đều có tư cách như một cá thể nhưng chỉ những cá thể nào tham gia vào hoạt động thực tiễn mới trở thành chủ thể. Nếu chủ thể là cá nhân thì có lợi ích cá nhân, nếu chủ thể là tập thể thì có lợi ích tập thể, nếu chủ thể là toàn xã hội thì có lợi ích xã hội. Các lợi ích này luôn luôn tồn tại trong mối quan hệ gắn bó, tác động lẫn nhau. Với cách hiểu lợi ích gắn liền với cách hiểu về con người như chủ thể hoạt động, hoạt động thực tiễn đã cho thấy xuất phát điểm của các nhà kinh điển khi tiếp cận lợi ích bắt đầu từ lập trường duy vật lịch sử, nghĩa là xuất phát từ những cá nhân hiện thực, là 8 hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra.
Cũng chính vì điều đó mà chủ nghĩa Mác – Lênin quan niệm lợi ích xuất hiện gắn liền và chịu sự quy định của điều kiện sống và hoạt động của con người. Nhận thức về lợi ích tác động trực tiếp đến mô típ hoạt động, hoạch định mục tiêu và truyền thông tin đến cách thức xác lập các chuẩn mực tương ứng. Nói cách khác, lợi ích là lợi ích của con người, nhưng không nảy sinh một cách tự động trong ý thức con người, mà chịu quy định bởi địa vị xã hội khách quan của chủ thể. Điều này đã được C.Mác nhận định như sau: “Nội dung của lợi ích cũng như hình thức và phương tiện thực hiện đều do những điều kiện xã hội không tùy thuộc vào cá nhân đem lại” [62, 87].
Do đó không thể xem xét lợi ích mang tính chất thuần túy chủ quan mà có cơ sở từ hiện thực khách quan. Tuy nhiên lợi ích của con người lại có cơ sở từ nhu cầu và để thoả mãn nhu cầu đó, con người phải hành động và đó chính là hành vi lịch sử đầu tiên của loài người, hành vi sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy. Nhưng nhu cầu con người rất đa dạng, nó luôn được phát triển và mở rộng.Mác đã chỉ ra rằng: “Con người được phân biệt với tất cả các loài động vật bởi vô hạn những nhu cầu của mình và những khả năng mở rộng chúng”. Có thể phân nhu cầu của con người thành hai loại nhu cầu cơ bản: nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội.
Nhu cầu tự nhiên bao gồm những nhu cầu như ăn, uống, hít thở không khí, ngủ, nghỉ. Nhu cầu xã hội là cả hệ thống những nhu cầu ngày càng mở rộng: nhu cầu về hoạt động sáng tạo, về việc thường xuyên nâng cao học vấn, về liên hệ và quan hệ nhiều mặt giữa con người với nhau, nhu cầu tự thể hiện và tự khẳng định mình, về thông tin rộng rãi, nhu cầu về tình cảm, về hôn nhân gia đình, nhu cầu về thẩm mỹ, thưởng thức văn học nghệ thuật.