Chương 1 trình bày những nét sơ lược về nghiên cứu. Nhận thấy vẫn còn khá ít các nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và sự phát triển thị trường tài chính trong khi cả hai yếu tố đều có tương quan chặt chẽ đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, tác giả quyết định thực hiện nghiên cứu nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa FDI và sự phát triển thị trường tài chính bằng ba cách tương ứng với thị trường chứng khoán, lĩnh vực ngân hàng và thị trường bảo hiểm. Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu của 10 quốc gia châu Á trong giai đoạn 1999 đến 2015. Do mô hình xảy ra hiện tượng nội sinh, tác giả sử dụng phương pháp ước lượng 2SLS hồi quy với biến công cụ để xác định dấu và hệ số của phương trình hồi quy.
Tác giả kỳ vọng nghiên cứu sẽ góp phần xác định mối quan hệ giữa FDI và sự phát triển thị trường tài chính, từ đó hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong việc hoàn thiện, cải cách hệ thống tài chính để nâng cao hiệu quả thu hút FDI nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển ở các nước châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. 123doc -7- CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung khái niệm 2. Tổng quan về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Ở phần này, bài nghiên cứu tiến hành nêu ra các khái niệm về FDI, cách phân loại, đặc điểm và vai trò của FDI để có cái nhìn tổng quan hơn về FDI.
Khái niệm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Dựa vào nguồn gốc của vốn, đầu tư được chia thành đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Căn cứ vào quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đầu tư được chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng sự khác biệt giữa các định nghĩa không nhiều. Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), FDI là việc đầu tư vốn được thực hiện ở các doanh nghiệp hoạt động nước ngoài nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư.
Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó. Cũng theo IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi nhà đầu tư nước ngoài mở rộng một mối quan hệ lâu dài với một doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư và có cổ phần trong doanh nghiệp đủ để duy trì một mức ảnh hưởng quan trọng trong việc quản lý doanh nghiệp này. Theo Ngân hàng thế giới (WB), đầu tư trực tiếp nước ngoài là dòng vốn đầu tư thuần vào một quốc gia để nhà đầu tư có được quyền quản lý lâu dài (nếu nắm được ít nhất 10% cổ phần thường) trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác (đối với chủ đầu tư). Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD), đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư dài hạn, có được lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công 123doc -8- ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú tại một nền kinh tế khác (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài).
Theo Điều 2, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào Việt Nam bằng tiền mặt hay bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này. Phân loại vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Bertrand (2004) phân loại FDI thành 2 nhóm chính dựa trên hình thức đầu tư: - Đầu tư mới (Greenfield Investment): công ty đầu tư xây dựng nhà máy mới hoặc mở rộng nhà máy, dây chuyền hiện có. - Mua lại và sáp nhập (Merger & Acquisition): công ty đầu tư mua luôn tài sản của doanh nghiệp nước ngoài. Dunning and Lundan (2008) phân loại FDI thành 4 nhóm chính dựa trên mục tiêu đầu tư: - FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực (Resource-seeking): Đầu tư nhằm tìm kiếm các dây chuyền sản xuất và các nguồn lực khác như lao động rẻ hoặc tài nguyên thiên nhiên, mà những nguồn lực này đã có sẵn tại nơi được đầu tư.
Đây là FDI thường đầu tư vào các nước đang phát triển như tài nguyên dầu mỏ ở Trung Đông hay vàng, kim cương ở Châu Phi, lao động rẻ ở Đông Nam Á. - FDI tìm kiếm thị trường (Market-seeking): Đầu tư nhằm thâm nhập thị trường mới hoặc duy trì thị trường hiện có. - Tìm kiếm hiệu quả (Effficiency-seeking): Đầu tư nhằm tăng cường hiệu quả bằng việc tận dụng lợi thế của tính kinh tế theo quy mô hay phạm vi, hoặc cả hai. - Tìm kiếm tài sản chiến lược (Strategic-Asset-Seeking): Đầu tư nhằm ngăn chặn việc bị mất nguồn lực vào tay đối thủ cạnh tranh.
Đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Dunning (1993) đã chỉ ra có ba đặc điểm chính của một dòng vốn FDI dựa trên động cơ đầu tư: - Đặc điểm thứ nhất của dòng vốn FDI chính là tìm kiếm thị trường, dòng vốn FDI chủ yếu hướng tới các thị trường ngoài nước hay còn gọi là dòng vốn FDI thay thế. - Đặc điểm thứ hai của dòng vốn FDI là tìm kiếm nguồn lực, dòng vốn FDI chủ yếu hướng đến tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động rẻ. - Đặc điểm thứ ba của dòng vốn FDI là tìm kiếm hiệu quả. Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Vốn là điều kiện hàng đầu cho sự tăng trưởng và phát triển ở mọi quốc gia.
Nếu như vốn trong nước là nguồn có tính chất quyết định, có vai trò chủ yếu thì vốn đầu tư nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng trong những bước đi ban đầu để tạo ra cú hích cho sự phát triển. Trong số các nguồn vốn huy động từ nước ngoài, FDI là nguồn vốn có vai trò đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế. Trong các lí luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập.
Nền kinh tế của một quốc gia cần nhiều vốn hơn nữa nếu muốn tăng trưởng nhanh hơn. Nếu vốn trong nước không đủ, quốc gia đó cần huy động thêm nguồn vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI. Thứ hai, FDI đẩy nhanh chuyển giao công nghệ và kỹ thuật quản lý. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm.
Tuy nhiên, việc tiếp nhận các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của từng quốc gia. Thứ ba, FDI tạo nguồn thu ngân sách lớn. Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. 123doc - 10 - Thứ tư, FDI góp phần tăng số lượng việc làm và phát triển nguồn nhân lực.
Mục tiêu của các nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư. Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm. Bên cạnh đó, FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước sở tại thông qua các dự án đầu tư và lĩnh vực giáo dục đào tạo.
Các cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến. Thứ năm, FDI mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu. Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ tận dụng những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất của nước sở tại, giúp khai thác hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế. Bởi thế, thông qua FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có thể có cơ hội tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu.
Tổng quan về thị trường tài chính Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính thông qua những phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất định. Nói cách khác, đây là nơi chuyển nhượng quyền sở hữu vốn từ những chủ thể thừa vốn sang những chủ thể thiếu vốn. Có thể nói thị trường tài chính là nơi tổng hòa các quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Phát triển thị trường tài chính là một quá trình thành lập các định chế nhằm mục đích tăng cơ sở thông tin, tăng cường khả năng phân tích của hệ thống tài chính và đáp ứng các nhu cầu mới của nhà kinh doanh, hộ gia đình,…thông qua việc đa dạng hóa các loại công cụ tài chính (Merton, 1995).
Có nhiều cách căn cứ khác nhau để xác định cấu trúc của một thị trường tài chính: - Căn cứ vào thời gian sử dụng nguồn tài chính huy động được thì thị trường tài chính bao gồm Thị trường tiền tệ và Thị trường chứng khoán. 123doc - 11 - - Căn cứ theo phương thức huy động nguồn tài chính thì thị trường tài chính bao gồm Thị trường nợ và Thị trường chứng khoán cổ phần. - Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn tài chính thì thị trường tài chính bao gồm Thị trường sơ cấp và Thị trường thứ cấp. - Căn cứ vào tính chất pháp lý thì thị trường tài chính bao gồm Thị trường tài chính chính thức và Thị trường tài chính không chính thức.
Theo Demirgüç-Kunt and Levine (2008), các chức năng tổng thể của một thị trường tài chính bao gồm năm chức năng cốt lõi là: (1) cung cấp thông tin về các khoản đầu tư và phân bổ vốn; (2) giám sát đầu tư và cung cấp thông tin cho việc quản trị doanh nghiệp sau khi được tài trợ vốn; (3) tạo thuận lợi cho kinh doanh, đa dạng hóa đầu tư và quản trị rủi ro; (4) huy động các khoản tiết kiệm; và (5) giảm bớt sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Một thị trường tài chính vững chắc và phát triển khi nó thực hiện tốt năm chức năng này.