Luận văn thạc sĩ vnu ued mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố đà nẵng mã số thí điểm

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ued mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

105
18
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC VẤN ĐỀ SKTT VÀ BNTT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về BNTT

1.1.1. Các nghiên cứu về BNTT trên thế giới

1.1.2. Thực trạng bắt nạt trực tuyến

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tổ chức nghiên cứu

2.2. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.3. Đặc điểm khách thể nghiên cứu

2.4. Quy trình nghiên cứu

2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

2.5.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.5.3. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC VẤN ĐỀ SKTT VÀ BNTT

3.1. Thực trạng tham gia vào BNTT ở học sinh THPT

3.2. Thực trạng các biểu hiện SKTT ở học sinh THPT

3.2.1. Các biểu hiện về căng thẳng xã hội

3.2.2. Các biểu hiện về lo âu

3.2.3. Các biểu hiện về trầm cảm

3.2.4. Các biểu hiện về rối loạn dạng cơ thể

3.2.5. Các biểu hiện về tăng động

3.2.6. Các biểu hiện về khả năng tự kiểm soát

3.2.7. Các biểu hiện về vấn đề tập trung chú ý

3.2.8. Các biểu hiện về tính bất thường

3.2.9. Các biểu hiện về lòng tự tôn

3.2.10. Các biểu hiện về tính tự lập

3.3. Mối liên hệ giữa bắt nạt trực tuyến và các vấn đề sức khỏe tâm thần

3.3.1. Mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt trực tuyến và các vấn đề sức khỏe tâm thần

3.3.2. Mối liên hệ giữa bị bắt nạt trực tuyến và sức khỏe tâm thần

3.3.3. Mối liên hệ giữa mức độ biểu hiện SKTT và mức độ tham gia vào BNTT ở học sinh THPT

3.4. Các yếu tố dự đoán cho mức độ tham gia bắt nạt trực tuyến ở học sinh THPT

3.5. Các yếu tố dự báo cho các vấn đề SKTT ở học sinh THPT

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mối Liên Hệ Giữa Sức Khỏe Tâm Thần Và Bắt Nạt Trực Tuyến

Mối liên hệ giữa sức khỏe tâm thầnbắt nạt trực tuyến (BNTT) đang trở thành một vấn đề cấp bách trong xã hội hiện đại, đặc biệt là trong môi trường học đường. Nghiên cứu cho thấy, học sinh THPT tại Đà Nẵng không chỉ là nạn nhân của BNTT mà còn có nguy cơ cao mắc phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Việc hiểu rõ mối liên hệ này sẽ giúp xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả.

1.1. Định Nghĩa Bắt Nạt Trực Tuyến Và Sức Khỏe Tâm Thần

Bắt nạt trực tuyến được định nghĩa là hành vi gây hại cho người khác thông qua các phương tiện điện tử. Sức khỏe tâm thần liên quan đến trạng thái tinh thần và cảm xúc của cá nhân. Cả hai khái niệm này đều có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của học sinh.

1.2. Tình Hình Bắt Nạt Trực Tuyến Ở Học Sinh THPT Đà Nẵng

Theo nghiên cứu, tỷ lệ học sinh THPT tại Đà Nẵng tham gia vào BNTT đang gia tăng. Các hình thức bắt nạt phổ biến bao gồm lăng mạ, đe dọa và chia sẻ thông tin cá nhân mà không có sự đồng ý. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của nạn nhân mà còn gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe tâm thần.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Liên Quan Đến Bắt Nạt Trực Tuyến

BNTT không chỉ là một hành vi xâm hại mà còn là một thách thức lớn đối với sức khỏe tâm thần của học sinh. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, nạn nhân của BNTT thường gặp phải các vấn đề như lo âu, trầm cảm và căng thẳng xã hội. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết kịp thời.

2.1. Tác Động Của Bắt Nạt Trực Tuyến Đến Tâm Lý Học Sinh

Nghiên cứu cho thấy, học sinh bị bắt nạt trực tuyến có nguy cơ cao mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần như trầm cảm và lo âu. Họ thường cảm thấy cô đơn và thiếu tự tin, dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng trong học tập và cuộc sống.

2.2. Các Hình Thức Bắt Nạt Trực Tuyến Phổ Biến

Các hình thức BNTT phổ biến bao gồm lăng mạ qua mạng xã hội, gửi tin nhắn đe dọa và phát tán thông tin cá nhân. Những hành vi này không chỉ gây tổn thương về mặt tâm lý mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển cá nhân của học sinh.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Bắt Nạt Trực Tuyến

Để giảm thiểu tác động của BNTT đến sức khỏe tâm thần, cần có những phương pháp can thiệp hiệu quả. Các chương trình giáo dục và hỗ trợ tâm lý cho học sinh là rất cần thiết.

3.1. Các Chương Trình Giáo Dục Về Bắt Nạt Trực Tuyến

Các chương trình giáo dục cần được triển khai để nâng cao nhận thức của học sinh về BNTT. Việc giáo dục về hậu quả của hành vi này sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về tác động của nó đến bản thân và người khác.

3.2. Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Nạn Nhân Bắt Nạt

Cung cấp hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân BNTT là rất quan trọng. Các chuyên gia tâm lý có thể giúp học sinh vượt qua những khó khăn về cảm xúc và xây dựng lại sự tự tin.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu về mối liên hệ giữa sức khỏe tâm thần và BNTT đã chỉ ra rằng, việc can thiệp kịp thời có thể giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến học sinh. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, học sinh được hỗ trợ tâm lý có khả năng phục hồi tốt hơn.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Tại Đà Nẵng

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có một mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ tham gia vào BNTT và các vấn đề sức khỏe tâm thần. Học sinh tham gia vào BNTT thường có biểu hiện lo âu và trầm cảm cao hơn.

4.2. Các Giải Pháp Đã Được Triển Khai

Nhiều trường học đã triển khai các chương trình can thiệp nhằm giảm thiểu BNTT. Những chương trình này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn cung cấp hỗ trợ tâm lý cho học sinh.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Bắt Nạt Trực Tuyến

Mối liên hệ giữa sức khỏe tâm thần và BNTT cần được nghiên cứu sâu hơn để có những giải pháp hiệu quả. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc phát triển các chương trình can thiệp và hỗ trợ cho học sinh.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu về BNTT và sức khỏe tâm thần là rất cần thiết để hiểu rõ hơn về tác động của BNTT đến học sinh. Điều này sẽ giúp xây dựng các chính sách giáo dục phù hợp.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Trong Nghiên Cứu

Tương lai của nghiên cứu sẽ tập trung vào việc phát triển các công cụ đánh giá và can thiệp hiệu quả cho học sinh. Việc này sẽ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của BNTT đến sức khỏe tâm thần.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố đà nẵng mã số thí điểm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 : Cơ sở lý luận Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC VẤN ĐỀ SKTT VÀ BNTT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về BNTT 1. Các nghiên cứu về BNTT trên thế giới 1.

Thực trạng bắt nạt trực tuyến Tại Hoa Kỳ, trong một nghiên cứu tổng quan về BNTT của Selkie, Fales, Moreno (2016) tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu từ năm 2015 về thực trạng BNTT ở học sinh cấp hai và cấp ba (10-19 tuổi), kết quả cho thấy 1-41% trẻ vị thành niên có hành vi BNTT, 3-72% trẻ vị thành niên bị BNTT và 2.7% trẻ vị thành niên vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân [69]. Trong cuộc khảo sát trên học sinh về BNTT ở bang New York, Mỹ (2012) có sự tham gia của học sinh đến từ 45 hạt và hơn 350 trường [50]. Kết quả cho thấy 92.4% nhận biết được ít nhất một hình thức của BNTT khi được hỏi; 47.8% học sinh biết người nào đó đã bị bắt nạt. Đa số học sinh cảm thấy thoải mái khi chia sẻ về việc bị bắt nạt đối với cha mẹ hơn là những người khác.5% học sinh cho rằng BNTT có thể là hành vi trái pháp luật.

Chỉ 1 trong 5 học sinh ở New York thực sự chia sẻ về việc các em đã bị bắt nạt trực tuyến. Một nghiên cứu khác ở Thổ Nhĩ Kỳ đã được thực hiện trong một cộng đồng mạng với hơn 1000 người tham gia cho thấy 56% người tham gia đã từng ít nhất một lần bị bắt nạt. Trong đó các trường hợp bị bắt nạt bao gồm: bị sử dụng hình ảnh webcam mà không có sự đồng ý (23%), nhận tin nhắn hoặc email đe dọa (27%), bị sử dụng trái phép thông tin cá nhân (30%), bị chia sẻ thông tin cá nhân lên mạng (30%), bị công bố hình ảnh hoặc video mà không có sự đồng ý (31%) v. [24] Kết quả cũng cho thấy rằng một vài yếu tố có ảnh hưởng đến việc bị bắt nạt trên mạng như: giới tính, tình trạng hôn nhân và kinh tế, mục đích, tần suất, thời gian, địa điểm và đặc điểm sử dụng internet và khả năng ngôn ngữ.

Ngoài ra việc sử dụng diễn đàn và blog cũng có ý 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa đối với nguy cơ bị bắt nạt. Tuổi, trình độ học vấn và khả năng sử dụng internet không có sự ảnh hưởng đối với việc trở thành nạn nhân của BNTT. Tại Hy Lạp, nhiều nghiên cứu về hình thức bắt nạt mới này cũng đã được thực hiện. Nghiên cứu về BNTT đầu tiên ở Hy Lạp được tiến hành bởi Sygkollitou, Psalti và Kapatzia (2010) trên 450 học sinh để khảo sát về những trải nghiệm bị bắt nạt trực tuyến.

Kết quả cho thấy 54% người tham gia cho biết đã từng bị bắt nạt, trong khi đó 50% người tham gia đã từng bắt nạt người khác. Điều quan trọng là hơn 40% người tham gia không biết rằng họ là thủ phạm gây ra việc bắt nạt. Nghiên cứu của Kapatzia và Sygkollitou (2008) trên 544 học sinh cấp 3 từ 16 đến 19 tuổi cho thấy việc học sinh bị BNTT nhiều hơn so với bắt nạt truyền thống với 20.5% trẻ tham gia cho biết từng bị bắt nạt trên mạng. Trong khi trẻ trai thường liên quan vào việc bắt nạt thông qua điện thoại thì với trẻ gái lại là khi dùng internet.

Và tương tự với các nghiên cứu trước, khi được hỏi về đặc điểm của thủ phạm thì đa số trẻ tham gia đều trả lời “Không biết”. Tần suất xảy ra BNTT được đánh giá là tương đối thấp theo như kết quả nghiên cứu của Tripodaki và cs.2% trong tổng số 900 trẻ vị thành niên tham gia đã từng bị bắt nạt và nhận những tin nhắn đe dọa, làm phiền [26]. Tương tự như các quốc gia khác, BNTT cũng là một vấn nạn ở Đức. Riebel, Jäger và Fischer (2009) đã tiến hành nghiên cứu trên 1987 học sinh ở Đức [66].

Kết quả cho thấy ở Đức đã xuất hiện hình thức bắt nạt này tuy nhiên chỉ với một số lượng nhỏ: 5.4% học sinh bị bắt nạt một lần một tuần hoặc thậm chí nhiều hơn; 14.1% học sinh trải nghiệm những tình huống gần giống với việc BNTT. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những học sinh bắt nạt người khác trên mạng thì cũng hành xử giống như những học sinh bắt nạt người khác trong đời thực. Điều này cũng tương tự đối với nạn nhân. Các nghiên cứu về bắt nạt tại Thái Lan chủ yếu tập trung vào bắt nạt truyền thống về thể chất.

Tuy nhiên một vài nghiên cứu gần đây cũng đã đưa ra được các bằng chứng liên quan đến hiện trạng BNTT tại đất nước này. Báo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cáo về BNTT của Boonoon (2009) [33] thực hiện trên 2500 học sinh từ 12 đến 19 tuổi trên cả nước cho thấy rằng 43% học sinh bị làm phiền, đe dọa trên mạng internet và đa phần trong số đó là học sinh THPT. Một phát hiện quan trọng của cuộc khảo sát là những đứa trẻ sống trong gia đình li hôn hoặc bạo lực có xu hướng gây ra sự quấy rối, xấu hổ và đe dọa cho người khác như những gì mà chúng phải chịu đựng trong cuộc sống thực của chúng. Songsiri và Musikaphan (2011) [77] cũng báo cáo các kết quả tìm được trên 1200 học sinh từ 21 trường ở Bangkok.

96% học sinh có điện thoại riêng và 95% sử dụng internet. Nghiên cứu cũng đưa ra 7 hình thức của BNTT. Thời gian sử dụng internet và các mối quan hệ trong gia đình cũng có thấy mối liên hệ với BNTT. Musikaphan (2009) đã so sánh kết quả về BNTT ở Thái Lan và Nhật Bản.

Kết quả ở Thái Lan thu được từ 2000 học sinh và ở Nhật Bản thu được từ 100 học sinh [58]. Tại Thái Lan, 59% học sinh cho biết đã bị bắt nạt nhiều hơn 1 lần mỗi tháng, trong khi ở Nhật Bản con số này rất thấp khi hơn một nửa học sinh tham gia chưa bao giờ đối mặt hoặc nhận thông tin về BNTT. Về thái độ đối với BNTT, ở Thái Lan, 60% học sinh cho rằng BNTT là hành vi nên bị cấm, trong khi 35% cho rằng BNTT là hành vi có thể được chấp nhận; trong khi đó ở Nhật Bản, 68% học sinh nghĩ rằng đó là một hành vi không tốt. Đa số các nghiên cứu về BNTT đều tập trung vào học sinh trung học và có trạng thái tâm thần bình thường mà bỏ qua các đối tượng là người khuyết tật.

Tuy nhiên nghiên cứu gần đây của Kowalski, Morgan, Drake-Lavelle và Allison (2016) [53] được tiến hành trên cả sinh viên khỏe mạnh và các sinh viên có khuyết tật về thể chất, thần kinh hoặc các vấn đề về tâm lý. 205 sinh viên đã hoàn thành bảng khảo sát về những trải nghiệm đối với BNTT. Kết quả cho thấy, tương tự như với bắt nạt truyền thống, những sinh viên khuyết tật nằm trong nguy cơ trở thành nạn nhân của BNTT với 13.9% sinh viên khuyết tật có nhiều khả năng bị bắt nạt hơn. Hậu quả của việc bị bắt nạt (lòng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tự trọng thấp, trầm cảm nặng…) đặc biệt được phát hiện ở những người bị khuyết tật.

Thực trạng BNTT trên thế giới Tác giả Năm Quốc Tổng số Lứa Tỉ lệ học sinh bị bắt nạt xuất gia khách thể tuổi bản nghiên cứu Selkie 2016 Hoa Kỳ 10-19 1%-41% trẻ VTN là TP, 3%- 72% trẻ VTN là NN và 2.7% trẻ vừa là TP vừa là NN Kowalski và 2016 Hoa Kỳ 205 sinh 13.9% sinh viên khuyết tật cộng sự viên có nhiều khả năng bị bắt nạt hơn Yavuz 2010 Thổ 1000 56% người tham gia đã từng Akbulut và Nhĩ Kỳ người ít nhất một lần bị bắt nạt cộng sự tham gia Julia Riebel 2009 Đức 1987 5.4% học sinh bị bắt nạt một và cộng sự người lần một tuần hoặc thậm chí tham gia nhiều hơn; 14.1% học sinh trải nghiệm những tình huống gần giống với việc BNTT Sygkollitou, Hy Lạp 450 học 54% người tham gia cho biết Psalti, and sinh đã từng bị bắt nạt Kapatzia Kapatzia và 2008 Hy Lạp 544 học 16-19 20.5% trẻ tham gia cho biết Sygkollitou sinh từng bị bắt nạt trên mạng Boonoon 2009 Thái 2500 học 12-19 43% học sinh bị làm phiền, Lan sinh đe dọa trên mạng internet Musikaphan 2009 Thái 2100 Tại Thái Lan, 59% học sinh Lan và người cho biết đã bị bắt nạt nhiều Nhật tham gia hơn 1 lần mỗi tháng, trong khi Bản ở Nhật Bản con số này rất thấp khi hơn một nửa học sinh tham gia chưa bao giờ đối mặt hoặc nhận thông tin về BNTT 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ thực trạng này có thể thấy các các quốc gia tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức có tỉ lệ người tham gia bị bắt nạt ít hơn so với các nước còn lại như Thái Lan, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ. Đặc điểm của nạn nhân và thủ phạm Các nghiên cứu trên thế giới đã được tiến hành để tìm hiểu những đặc điểm ở nạn nhân và thủ phạm của BNTT như độ tuổi, cấp học, giới tính, đặc điểm tâm lý v. Một nghiên cứu cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa tuổi và giới tính với hành vi BNTT là nghiên cứu của Cole, Krohn, Jewell và Hupp (2011) [40]. Nghiên cứu được tiến hành trên 483 học sinh ở các trường THCS, THPT và cao đẳng nhằm kiểm chứng yếu tố giới tính, độ tuổi, tần suất sử dụng tin nhắn qua mạng, tần suất sử dụng tin nhắn văn bản và thời gian sử dụng mạng như yếu tố dự báo của việc thực hiện BNTT, bắt nạt bằng hình ảnh, trở thành nạn nhân của BNTT, hay bị bắt nạt bằng hình ảnh.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi, giới tính, tần suất sử dụng tin nhắn văn bản và thời gian sử dụng mạng là yếu tố dự báo của việc thực hiện BNTT. Tuổi, giới tính và tần suất sử dụng tin nhắn văn bản dự báo việc bắt nạt bằng hình ảnh. Về việc trở thành nạn nhân của BNTT, tuổi, tần suất sử dụng tin nhắn điện tử và tần suất sử dụng tin nhắn văn bản là yếu tố dự báo có ý nghĩa. Thời gian sử dụng mạng là yếu tố dự báo của việc bị bắt nạt bằng hình ảnh.

Về độ tuổi, Williams và Guerra (2007) tiến hành nghiên cứu về thực trạng BNTT ở 1519 học sinh lớp 5 (từ 10 đến 11 tuổi), lớp 8 (từ 13 đến 14 tuổi) và lớp 11 (từ 16 đến 17 tuổi) – những năm học chuyển cấp trong hệ thống giáo dục của Mỹ [82].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Mối Liên Hệ Giữa Sức Khỏe Tâm Thần và Bắt Nạt Trực Tuyến Ở Học Sinh THPT Đà Nẵng" khám phá mối quan hệ giữa sức khỏe tâm thần và hiện tượng bắt nạt trực tuyến trong cộng đồng học sinh trung học phổ thông tại Đà Nẵng. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc bị bắt nạt trực tuyến có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe tâm thần, bao gồm lo âu, trầm cảm và giảm chất lượng cuộc sống. Tài liệu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng này mà còn gợi ý các biện pháp can thiệp nhằm hỗ trợ học sinh, từ đó nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần trong môi trường học đường.

Để mở rộng thêm kiến thức về sức khỏe tâm thần, bạn có thể tham khảo tài liệu Thực trạng sức khỏe tâm thần và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng viên tại khoa hồi sức cấp cứu tại một số bệnh viện ở hà nọi năm 2024, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về sức khỏe tâm thần trong ngành y tế. Ngoài ra, tài liệu Luận văn sức khỏe tâm thần của học sinh trường trung học phổ thông chuyên nguyễn quang diệu thành phố cao lãnh tỉnh đồng tháp và một số yếu tố liên quan năm 2019 cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh ở một khu vực khác. Cuối cùng, tài liệu Luận văn tâm lý học lâm sàng sức khỏe tinh thần rối loạn tinh thần phụ nữ trẻ em sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về sức khỏe tâm thần của phụ nữ và trẻ em tại Đà Nẵng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe tâm thần trong các nhóm đối tượng khác nhau.