Chương 1: Cơ sở lý luận - Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả nghiên cứu 8 Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 21 of 68. ƯƠNG 1 Ơ Ở UẬN Vấn đề SKTT có tác động lớn đến người dân ở các quốc gia trên thế giới.
Các RLTT có thể dẫn đến tàn tật, ảnh hưởng đến sự tham gia xã hội đầy đủ và hiệu quả của bệnh nhân. Các RLTT thường đi kèm với các bệnh không lây nhiễm và một loạt các vấn đề sức khỏe bao gồm sức khỏe người mẹ trẻ em, bạo lực và chấn thương. Các RLTT thường tồn tại cùng với các yếu tố xã hội như nghèo đói, bạo lực gia đình và lạm dụng chất [25]. Có hàng triệu người trên thế giới bị ảnh hưởng bởi các rối loạn tâm thần.
Trong năm 2004, các rối loạn tâm thần chiếm 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [25]. Trong gánh nặng bệnh tật, nếu chỉ tính riêng về tàn tật thì các RLTT chiếm 25.5% của YLDs (Years lived with disability – số năm sống với tàn tật) ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Năm 2010, các RLTT và lạm dụng chất là nguyên nhân hàng đầu của YLDs trên toàn thế giới, gánh nặng của các RLTT và lạm dụng chất đã tăng 37,6% trong giai đoạn 1990 – 2010 [13]. Có thể thấy vấn đề SKTT có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và ngày càng trở nên trầm trọng.
Trong các RLTT, trầm cảm và lo âu rất phổ biến và có tác động tiêu cực đến cả phụ nữ và nam giới, trong đó phụ nữ chịu ảnh hưởng nhiều hơn do các đặc thù về văn hóa xã hội. Tỷ lệ trầm cảm trong suốt cuộc đời ở nữ là 11,7%, còn nam giới là 5,6%. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trầm cảm là một trong ba nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2004 [38]. Với tầm ảnh hưởng lớn và trên diện rộng của các vấn đề SKTT, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã và đang nỗ lực nghiên cứu tìm các bằng chứng để kêu gọi sự quan tâm, đầu tư ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu.
9 Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 22 of 68.1 Các nghiên cứu về mối liên quan giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ em 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ. Nghiên cứu “Mối quan hệ giữa sức khỏe tâm thần người mẹ và tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở trẻ trước độ tuổi đi học sau chiến tranh ở dải Gaza” của tác giả Thabet Abdel Aziz Mousa và cộng sự, đã điều tra về tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở trẻ trước độ tuổi đi học và mối quan hệ với sức khỏe tâm thần của người mẹ.
380 trẻ độ tuổi từ 4 đến 6 và mẹ của chúng đã được lựa chọn từ các nhà trẻ ở dải Gaza. Trẻ được đánh giá thông qua báo cáo của mẹ về vấn đề trầm cảm và lo âu, còn người mẹ được đánh giá bằng bảng hỏi sức khỏe GHQ, 28 câu. Kết quả cho thấy có mối tương quan đáng kể giữa vấn đề sức khỏe tâm thần của người mẹ với các vấn đề trầm cảm và lo âu ở trẻ [28, tr 61-70]. Một nghiên cứu khác tìm hiểu về mối liên quan giữa các căng thẳng tâm lý ở 54 người mẹ Mỹ, gốc Latin (do mẹ tự báo cáo) với các vấn đề hướng nội và hướng ngoại ở 54 trẻ vị thành niên là con của những phụ nữ này (28 nam và 26 nữ, do trẻ tự báo cáo) và tìm hiểu vai trò của hai yếu tố trung gian là sự gắn kết gia đình và quan hệ với bạn bè ảnh hưởng đến mối quan hệ này.
Kết quả cho thấy các triệu chứng SKTT của người mẹ có tương quan đáng kể với các vấn đề hướng nội ở trẻ gái và các yếu tố như sự gắn kết gia đình và quan hệ bạn bè có vai trò trung gian trong mối quan hệ này [21, tr 103-112]. Một nghiên cứu khác xem xét mối quan hệ giữa các triệu chứng của trầm cảm, lo âu sau sinh ở người mẹ và sự khởi phát của các vấn đề cảm xúc và hành vi ở trẻ, có cân nhắc đến tác động của các triệu chứng SKTT của người mẹ sau này. Mẫu nghiên cứu bao gồm 2891 phụ nữ và trẻ em. Nghiên cứu sử dụng công cụ đánh giá trầm cảm sau sinh Edinburgh Postnatal Depression Scale và thang đánh giá lo âu Crown Crisp Experiential Index ở các giai đoạn của thai kỳ.
Mẹ 10 Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 23 of 68. và giáo viên đánh giá sự khởi phát các vấn đề cảm xúc và hành vi ở trẻ bằng công cụ SDQ khi trẻ được 10 – 11 tuổi.
Nghiên cứu kết luận rằng việc phơi nhiễm với các triệu chứng trầm cảm và/hoặc lo âu trong quá trình thai nghén có tương quan với việc tăng tổng số lần khởi phát các vấn đề cảm xúc và hành vi, thậm chí ngay cả khi kiểm soát các biến về đặc điểm nhân khẩu, tâm lý xã hội của người mẹ [16, tr 161-171]. Trong một nghiên cứu của tác giả Sirian Lisa M về các yếu tố liên quan giữa trầm cảm ở người mẹ và các ảnh hưởng tiêu cực ở trẻ, tác giả đã chỉ ra rằng trẻ là con của những phụ nữ bị trầm cảm thường có nhiều ảnh hưởng tiêu cực hơn trẻ là con của những phụ nữ không bị trầm cảm, bao gồm tăng các vấn đề về hành vi và tâm bệnh [24]. Tác giả Weissman, Myrna M khi thực hiện một cuộc rà soát các nghiên cứu về trầm cảm ở phụ nữ thì đã đưa ra hai kết luận như sau: trầm cảm gây ra những căng thẳng trong hôn nhân và trẻ em thì bị tổn thương do tình trạng trầm cảm của người mẹ [32, tr 19 – 25]. Như vậy, ta có thể thấy trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng SKTT của người mẹ có liên quan chặt chẽ đến các vấn đề SKTT của trẻ.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, nghiên cứu trong lĩnh vực SKTT chưa nhiều và mới chỉ điều tra tỷ lệ mắc của các rối loạn tâm thần trong cộng đồng. Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng có một số lượng đáng kể người dân chịu tác động bởi các vấn đề SKTT. Trần Văn Cường và cộng sự (2006) đã tìm hiểu về tỷ lệ của các RLTT phổ biến ở 7 tỉnh của Việt Nam và kết luận rằng tỷ lệ mắc các RLTT là 12,5%, tỷ lệ trầm cảm là 3,2%, tỷ lệ lo âu là 2,27% dân số [1]. Theo Nguyễn Văn Siêm (2010) nghiên cứu tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Tây, tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm là 8,35% dân số > 15 tuổi, tỷ lệ bệnh nhân nữ/nam là 5/1 [4, tr 71-74].
Năm 2000, Trần Viết Nghị và cộng sự đã điều tra dịch tễ 10 bệnh tâm thần tại phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm là 2,6%, tỷ lệ rối loạn lo âu là 2,98% [3, tr 76 - 83]. Tác giả Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss và Nguyễn Cao Minh (2013) tìm ra tỷ lệ 13,2% trẻ em 11 Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 24 of 68.
Ở những trẻ lớn hơn, có 10,7% trẻ có vấn đề SKTT (công cụ SDQ) và 12,4% (công cụ YSR) [2, tr 106. Như vậy theo các kết quả nghiên cứu trên thì các RLTT là phổ biến trong cộng đồng và có ảnh hưởng tiêu cực đến cả người lớn và trẻ em. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu, đề tài khoa học nào tìm hiểu về mối liên quan giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ. Chỉ có duy nhất một chương trình SKTT cộng đồng là “Thực hiện mô hình chăm sóc SKTT và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại Đà Nẵng và Khánh Hòa” của Quỹ Cựu chiến binh Mỹ (VVAF) tìm thấy mối liên hệ giữa SKTT của trẻ em và người trưởng thành dựa vào dữ liệu thu thập tại thời điểm ban đầu của dự án, đó là việc trong gia đình có người bị RLTT và khiếm khuyết về chức năng thì có ảnh hưởng lớn đến SKTT ở trẻ [29, tr 2.
Như vậy, có thể thấy tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về mối liên hệ giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ. Các nghiên cứu về tác động của hỗ trợ xã hội đối với SKTT của phụ nữ 1. Các nghiên cứu trên thế giới Mối liên hệ giữa hệ giữa hỗ trợ xã hội và SKTT của phụ nữ là một chủ đề quan trọng và thú vị, đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện như nghiên cứu của tác giả Reid Keishia và cộng sự, tìm hiểu mối liên hệ giữa hỗ trợ xã hội, căng thẳng và trầm cảm sau sinh ở người mẹ. Nghiên cứu chỉ ra rằng những hỗ trợ về vật chất và tinh thần từ người chồng là yếu tố bảo vệ phụ nữ khỏi nguy cơ trầm cảm sau sinh.
Các hỗ trợ từ bạn bè và gia đình của người phụ nữ có tác dụng giảm thiểu các tác động của căng thẳng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người hỗ trợ khác nhau trong mạng lưới xã hội của phụ nữ cũng rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh cấu trúc gia đình, sự hỗ trợ từ chồng là yếu tố bảo vệ đáng kể cho hôn nhân [22].