Chương 1: Những vấn đề cơ bản về khu công nghiệp, tín dụng ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp trong Khu Công Nghiệp. Chương 2: Thực trạng tín dụng đối với doanh nghiệp trong Khu Công Nghiệp tại các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Chương 3: Giải pháp tín dụng đối với doanh nghiệp trong Khu Công Nghiệp của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh Hải Dương. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, TÍN DỤNG NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 1.
Khái niệm và đặc điểm khu công nghiệp, doanh nghiệp trong các khu công nghiệp.1 Khái niệm khu công nghiệp. Lịch sử hình thành và phát triển KCN của nhiều nƣớc trên thế giới có những nét đặc thù khác nhau, tuỳ theo điều kiện mỗi nƣớc, nhƣng cho đến nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN và vì thế cũng hình thành hai khái niệm về KCN: Một là, theo nghĩa hẹp, KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định ở đó tập trung các xí nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cƣ sinh sống. Hai là, theo nghĩa rộng, cho rằng KCN là danh từ chung để chỉ một khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thƣơng mại, nhà ở. Thực chất, KCN theo quan niệm này là khu hành chính kinh tế.
Các hình thức biểu hiện cụ thể của KCN nhƣ: Khu chế xuất, khu công nghệ kỹ thuật cao, khu công nghiệp tập trung. Khu chế xuất là một khu công nghiệp chuyên sản xuất phần lớn sản phẩm để xuất khẩu, có ranh giới hành chính rõ rệt, đƣợc hƣởng một quy chế pháp lý và những ƣu đãi đặc biệt nhằm thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài để sản xuất, chế tạo hàng xuất khẩu và tiến hành các dịch vụ và hoạt động kinh tế hỗ trợ cho sản xuất hàng xuất khẩu và cho xuất khẩu. KCN tập trung là một khu vực tập trung công nghiệp trên một lãnh thổ nhất định. Một KCN có thể là một cụm công nghiệp hoặc nhiều cụm công 6 nghiệp.
KCN kỹ thuật cao, tập trung những DN công nghiệp thuộc những ngành nghề sản xuất có hàm lƣợng khoa học công nghệ cao và những cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ, nhờ đó quan hệ giữa nghiên cứu và ứng dụng triển khai đƣợc tổ chức có hiệu quả. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ giới hạn việc phân tích KCN theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa này, KCN chỉ giới hạn cho một khu vực có ranh giới địa lý xác định, tập trung các dự án sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, không có dân cƣ sinh sống, trong KCN có thể thành lập các DN xuất khẩu. KCN theo nghĩa trên cũng phù hợp với khái niệm về KCN đƣợc quy định trong nghị định 29/2008/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/3/2008 về quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.
“KCN là khu tập trung chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định”. Sự cần thiết của KCN đối với phát triển kinh tế, đảm bảo môi trường. Khu công nghiệp là một hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp mang tính khách quan gắn với phát triển vùng lãnh thổ một cách hợp lý, hiệu quả. Vì vậy KCN có một vị trí quan trọng trong việc thực hiện chiến lƣợc phát triển vùng, lãnh thổ.
Quy hoạch sản xuất gắn với phát triển đô thị nên vai trò của KCN trong tiến trình CNH-HĐH nhƣ sau : Một là : KCN đóng vai trò tiên phong trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân. - KCN đƣợc coi là nơi thử nghiệm chính sách kinh tế mới, tốt nhất, đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại và là đầu tầu tiên phong trong sự nghiệp phát triển kinh tế quốc dân. 7 - KCN là trọng điểm kinh tế của địa phƣơng, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nƣớc, mở mang các ngành nghề mới, tạo việc làm cho ngƣời lao động, thu hút nguồn lao động sẵn có ở địa phƣơng.Việc xây dựng các KCN có thể làm thay đổi cả diện mạo một vùng kinh tế, tạo điều kiện để dân cƣ tiếp cận với một nền công nghiệp hiện đại, làm thay đổi tập quán sinh hoạt địa phƣơng. Các KCN đƣợc xây dựng sẽ hình thành nên các khu dân cƣ, đô thị mới, kéo theo những dịch vụ mới cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
- Phát triển các KCN sẽ là đầu tầu tăng trƣởng thúc đẩy các ngành khác phát triển. Đồng thời với sự xuất hiện của các KCN với nhiều ƣu đãi buộc các doanh nghiệp ngoài KCN sẽ phải tính toán đến hiệu quả kinh tế để chuyển vào trong KCN. Việc quy tụ các doanh nghiệp vào trong KCN sẽ hạn chế sự lãng phí đất, giúp cho địa phƣơng có thể tập trung nguồn vốn để phát triển các cơ sở hạ tầng trong các KCN, thu hút vốn đầu tƣ, giảm chi phí khai thác thị trƣờng. Hai là: KCN là nơi tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học công nghệ.
- Các KCN là nơi tiếp nhận chuyển giao và áp dụng có hiệu quả những thành tựu phát triển của khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ. - Phát triển các KCN tập trung là phƣơng thức tốt nhất nhằm tập trung nguồn lực vào một „Vùng lãnh thổ‟ tạo ra cơ hội giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí sản xuất, kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trên thị trƣờng. Ba là: Tạo hiệu quả về kinh tế xã hội. - Với những ƣu đãi về giá thuê đất, về chính sách tài chính linh hoạt và các thủ tục tài chính đơn giản, thuận lợi sẽ là lợi thế cho các chủ đầu tƣ về giảm chi phí đầu tƣ, chi phí sản xuất kinh doanh và các chi phí hành chính 8 khác.
- KCN phát triển sẽ tạo điều kiện dẫn dắt công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ cần thiết từ từ dịch vụ công nghiệp, tài chính, ngân hàng, cung cấp nguyên liệu đến dịch vụ lao động trong KCN. Đồng thời, việc thu hút lao động tạo nên khu dân cƣ tập trung, hình thành các đô thị, thành phố công nghiệp, giúp phân bố và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của địa phƣơng. - Phát triển các KCN là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả vốn đầu tƣ. Đối với Việt Nam do thiếu vốn chƣa cho phép cùng một lúc hoàn thiện toàn bộ cơ sở hạ tầng vì vậy việc xây dựng và phát triển các KCN là một giải pháp tốt nhằm tập trung nguồn lực vốn rất hạn hẹp vào một số khu vực trọng điểm có nhiều lợi thế hơn các khu vực khác trên địa bàn lãnh thổ.
Bốn là: Tạo việc làm cho ngƣời lao động. - Phát triển KCN sẽ tạo nhiều chỗ làm việc cho các khu vực có KCN, mặt khác các KCN vữa là nơi du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý, vừa là môi trƣờng đào tạo ra những ngƣời quản lý có trình độ cao, có bản lĩnh và kinh nghiệm, những công nhân có tay nghề cao, tác phong công nghiệp do đƣợc tiếp xúc với những dây chuyền công nghệ tiên tiến với kỹ thuật cao buộc ngƣời lao động phải tự rèn luyện và không ngừng học hỏi nâng cao trình độ. Năm là: KCN hình thành và phát triển sẽ là cầu nối hội nhập kinh tế trong nƣớc và kinh tế quốc tế. Sự hình thành và phát triển các KCN có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nƣớc, phát huy tác dụng lan toả, dẫn dắt.
Mặt khác, các KCN còn là nơi sản xuất hàng hoá xuất khẩu hƣớng ra thị trƣờng thế giới, là cửa ngõ khai thông kinh tế trong nƣớc với bên ngoài, góp phần đẩy nhanh quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế, hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Sáu là: Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. KCN hình thành và phát 9 triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp của cả nƣớc và điạ phƣơng có KCN. KCN phát triển sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nƣớc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng, đổi mới trang thiết bị, tích luỹ thêm kinh nghiệm, làm ăn có hiệu quả.
Bảy là: Góp phần đảm bảo môi trƣờng. Các KCN thƣờng có nhà máy xử lý nƣớc thải tập trung cho cả KCN, do vậy vấn đề môi trƣờng sẽ đƣợc giải quyết. Vai trò của doanh nghiệp trong KCN.1 Khái niệm doanh nghiệp trong KCN. Doanh nghiệp trong KCN đƣợc hiểu là các doanh nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động trong KCN và các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trong KCN.
Doanh nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động trong KCN bao gồm: các DN sản xuất KCN, các DN dịch vụ KCN và các DN chế xuất. - DN sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động trong KCN. - DN dịch vụ KCN thực hiện các công trình kết cấu hạ tầng KCN và dịch sản xuất công nghiệp. - DN chế xuất là DN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
Ngoài các đối tƣợng trên, trong KCN còn có các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc quyền sở hữu của các DN đƣợc thành lập và hoạt động ngoài KCN. Các DN này hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực và có đầu tƣ xây 10 dựng xí nghiệp hoặc nhà máy trong KCN. Loại hình DN trong KCN: trong KCN thƣờng đa dạng các loại hình doanh nghiệp: nhƣ DNNVV, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp trong nƣớc, doanh nghiệp 100% nƣớc ngoài, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc.2 Vai trò của doanh nghiệp trong KCN. Thứ nhất, Doanh nghiệp trong KCN đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc dân và nguồn thu ngân sách nhà nƣớc; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm nghèo đói và bất bình đẳng khu vực.