mở đầu thời đại nhà Đường và được tôn xưng là Đường Cao Tổ. Tuy nhiên, các con ông lại đánh nhau để giành quyền thừa kế ngai vàng. Hai người con trai của ông là Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát đã thiệt mạng trong cuộc tranh giành quyền lực này. Lý Uyên chỉ còn một sự lựa chon duy nhất là Lý Thế Dân, con trai dòng đích duy nhất còn sống sót.
Năm 626, Lý Uyên nhường ngôi cho Lý Thế Dân, người mà về sau đã đưa đất nước Trung Quốc quay trở lại thời thịnh vượng và vàng son. Năm 907, một lãnh chúa là Chu Ôn lật đổ ngai vàng nhà Đường và lập lên triều Lương, một trong năm triều đại ngắn ngủi kế tiếp nhau thống trị bắc Trung Quốc trong nửa thế kỷ: Hậu Đường (923-936), Hậu Tấn (936-947), Hậu Hán (947-950), Hậu Chu (951-959). Ở phía Nam, các lãnh chúa cát cứ vùng đất của mình và lần lượt thành lập mười tiểu quốc nhỏ và không ngừng tìm kiếm phương cách để thôn tính lẫn nhau: Tiền Thục, Hậu Thục, Ngô, Ngô Việt, Nam Đường, Mân, Sở, Nam Hán, Nam Bình. Tới năm 951, một hoàng thân nhà Hậu Hán chiếm giữ vùng Thái Nguyên lập ra nước Bắc Hán.
Thời kỳ này, người Trung Quốc gọi là Ngũ Đại Thập Quốc. Như vậy, Trung Quốc thời tiền phong kiến đã xác lập được một vùng lãnh thổ rộng lớn, với những thành tựu về tư tưởng văn hóa riêng biệt, hòa vào dòng chảy lịch sử thế giới. Tuy có nhiều giai đoạn trong lịch sử thời kì đầu còn rối ren với sự phân 15 chia của nhiều tiểu quốc, nhiều tộc người nhưng Trung Quốc tới thế kỷ X đã để lại nhiều thành tựu cho nhân loại, tạo tiền đề vững chắc cho sự thống trị của các triều đại sau này. Thời kỳ nhà Tống, Nguyên, Minh, Thanh Năm 960, trong khi Trung Quốc ở vào tình trạng rối ren, vị tướng phụ trách an ninh nơi cung cấm ở thủ đô mới Khai Phong là Triệu Khuông Dận nhân khi vua nhà Hậu Chu mới lên ngôi còn bé, bèn làm binh biến lên làm vua.
Ông lập ra Nhà Tống. Nhà Tống khi mới thành lập đã tiến hành chính sách đi chinh phạt phía Nam trước rồi mới giải quyết lực lượng ở phía Bắc sau. Trong hai mươi năm Tống lần lượt tiêu diệt được sáu nước chư hầu nhỏ và thống nhất vùng lãnh thổ phía Nam Trung Quốc. Sau khi thành công tiêu diệt lực lượng phía Nam thì đem quân đánh Liêu tuy nhiên thất bại nhiều lần còn bị quân Liêu đem quân quấy phá, buộc phải kí hòa ước với Liêu và nộp cống hàng năm.
Bên cạnh đó, Tây Hạ cũng nhiều lần đối đầu với Tống, Tống yếu thế đành phải chấp nhận giảng hòa, nạp cống cho Tây Hạ. Tình hình biên cương luôn rơi vào tình thế khó khăn, trong khi trong nước kinh tế dần kiệt quệ khi hàng năm phải liên tục triều cống. Năm 1069, được sự đồng ý của vua Tống Thần Tông, Tể tướng Vương An Thạch đã đề ra một chương trình cải cách về kinh tế quân sự tuy nhiên không được hiệu quả bao nhiêu. Bắc Tống suy yếu dẫn đến diệt vong, Nam Tống ra đời nhưng quan hệ của Nam Tống và nước Kim không được thuận lợi, trong nước thì khởi nghĩa nông dân liên tục xảy ra dẫn đến sự suy yếu và bị Mông Cổ đánh chiếm.
Nhà Tống cuối cùng bị rơi vào tay quân xâm lược Mông Cổ năm 1279. Hốt Tất Liệt người Mông Cổ đã lập ra nhà Nguyên. Triều Nguyên dưới sự thống trị của một ngoại tộc, liên tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược ra vùng Trung Á và Châu Á. Lãnh thổ Trung Quốc trên bản đồ dưới thời Nguyên được xác lập rộng lớn nhất trong các triều đại của Trung Quốc.
Đến cuối thời Nguyên, dưới sự thống trị của những kẻ ngoại tộc, mâu thuẫn dân tộc ngày càng gia tăng cùng với sự mục nát trong giai cấp thống trị, dẫn đến tình trạng khởi nghĩa mạnh mẽ. Về sau một thủ lĩnh nông dân là Chu Nguyên Chương đã lật đổ người Mông Cổ năm 1368 và lập ra nhà Minh, kéo dài tới năm 1644. Đầu triều Minh dưới sự cai trị và những chính sách nới lỏng sức dân của Minh Thái Tổ để khắc phục tình trạng sau 20 năm Mông Cổ cai trị, tạo điều kiện thuận lợi 16 cho việc khôi phục và phát triển nông nghiệp, bỏ những hình phạt tàn khốc thời Nguyên, nghiêm trị quan lại tham ô,. Đến thời Minh Thành Tổ, triều Minh phát triển cường thịnh.
Ông tiếp tục thi hành chính sách phát triển nông nghiệp, đối với bên ngoài, Minh Thành Tổ thực thi chính sách “Viễn giao cận công”, liên tục đem quân đánh Mông Cổ và lôi kéo Nữ Chân thần phục triều Minh. Về phía Nam, ông thi hành chính sách bang giao nhằm lôi kéo các nước này thần phục Trung Quốc, mở rộng ảnh hưởng về phía Nam bằng những cuộc đi vượt biển phía Nam. Sau khi Minh Thành Tổ mất, những thời vua sau của triều Minh không còn cường thịnh như trước, lại bị thất bại trong mặt trận ở Đại Việt nhiều lần nên vua Minh dừng cuộc chiến xâm lược lại, tuy nhiên tới giai đoạn này nhà Minh đã thực sự suy yếu, thêm vào đó nhiều lần bị Mông Cổ xâm nhập, đất nước thì nhiều nơi nổ ra khởi nghĩa, nhà Minh sau đó cũng sụp đổ. Sau nhà Minh là đến nhà Thanh (của người Mãn Châu), kéo dài đến vị vua cuối cùng là Phổ Nghi thoái vị vào năm 1911.
Dưới sự thống trị của triều Thanh và những chính sách đối ngoại của triều Thanh là xâm lược Miến Điện và Đại Việt cùng với chính sách đóng cửa với phương Tây, không lâu sau triều Thanh cũng dần suy yếu và trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Năm 1912, sau một thời gian dài suy sụp, chế độ phong kiến Trung Quốc cuối cùng sụp đổ hẳn và Tôn Trung Sơn thuộc Quốc Dân Đảng thành lập Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Ba thập kỷ sau đó là giai đoạn không thống nhất - thời kỳ Quân phiệt cát cứ, Chiến tranh Trung - Nhật, và Nội chiến Trung Quốc. Nội chiến Trung Quốc chấm dứt vào năm 1949 và Đảng Cộng sản Trung Quốc lập ra Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Trung Quốc đã dùng nhiều biện pháp để có thể xâm chiếm được nhiều vùng lãnh thổ như ngày nay, có thể thấy rằng ngoài sự tác động về địa lý tự nhiên, về dân cư và sự tác động của con người Trung Quốc trải qua chiều dài lịch sử cũng làm nên một Trung Quốc có tính cách chiếm hữu và mang tư tưởng bá quyền. Từ đó có thể lý giải rằng, sự mở rộng về lãnh thổ của Trung Quốc có tác động rất lớn từ yếu tố lịch sử lâu đời cũng như con người Trung Quốc tác động mà làm nên một nhân tố dẫn đến quá trình mở rộng cương vực lãnh thổ lâu dài sau này. Văn hóa - tư tưởng Trung Quốc, với một bề dày lịch sử hơn 5000 năm, và là đất nước có lãnh thổ rộng lớn nhất châu Á và đứng thứ tư trên thế giới, đó là thành quả to lớn của các triều đại phong kiến Trung Quốc trong việc đưa đất nước Trung Quốc trở thành một đất nước không chỉ mạnh về kinh tế - chính trị mà còn có một nguồn tài nguyên đất đai rộng lớn. Vậy để có một lãnh thổ rộng lớn như hiện nay, đòi hỏi triều đình phong kiến Trung Quốc phải có những phương hướng, đường lối, chiến lược trong quan hệ với các nước xung quanh.
Điều này đã được các nhà cầm quyền phong kiến ở Trung Quốc thể hiện trong các tư tưởng, chủ trương của triều đình phong kiến trong việc quan hê bang giao với các nước láng giềng. Thứ nhất, trong Tứ thư viết về việc Mạnh Tử trả lời Tề Tuyên Vương nguyên tắc, phương pháp trong quan hệ với các nước xung quanh như sau: “Tự mình là vua nước lớn giúp đỡ các vua nước nhỏ yếu, đó là biết thuận theo mệnh trời. Tự mình là vua nước nhỏ đối xử tốt với vua nước lớn là biết kính sợ mệnh trời. Bậc biết thuận theo mệnh trời có thể giữ yên thiên hạ.
Bậc biết kính sợ mệnh trời có thể gìn giữ nước nhà. 34] Theo đó, Trung Hoa ngay từ khi mới thành lập năm 221 TCN, trở thành một quốc gia phong kiến lớn với thể chế tập trung chuyên chế cao độ đã luôn thể hiện tư tưởng bá quyền nhằm thôn tính các nước khác trở thành một phần lãnh thổ hoặc tạo nên một hệ thống chư hầu, lấy mình làm trung tâm và buộc các quốc gia xung quanh phải lệ thuộc vào mình, xem các quốc gia xung quanh là Man, Di, Nhung, Địch [1]. Người Trung Hoa cho rằng họ có văn hóa, lễ nghĩa, còn người Di, Địch thì kém cỏi, lạc hậu. Qua đó, Trung Hoa từ lâu luôn coi mình là trung tâm và luôn coi thường các dân tộc xung quanh theo tư tưởng: “…khắp dưới gầm trời không đâu không là đất của vua, tất cả trên mặt đất không ai không là tôi của vua”.
Chính tư tưởng này là cơ sở hình thành nên đường lối đối ngoại của các triều đại phong kiến phương Bắc. Không triều đại nào của Trung Hoa là không có những cuộc chiến tranh nhằm thôn tính các nước khác, nhằm mở rộng lãnh thổ làm sao cho tương xứng với tầm vóc của mình. Vua Đường Thái Tông đã từng nói: “Chinh phục man di ngày trước chỉ có Tần Thủy 1 Trong văn hóa chính trị Trung Quốc thời phong kiến, họ gọi các dân tộc xung quanh với những tên gọi đầy tính miệt thị, cao ngạo như Bắc Địch, Nam Man, Tây Nhung, Đông Di. Ta nay với thanh kiếm ba thước đã khuất phục hai trăm vương quốc, dẹp yên bốn bể, bọn man di ở cõi xa cũng lần lượt quy phục” [7, tr.
46] Thứ hai, tư tưởng “Đại thống nhất” và “Đại nhất thống” của Trung Quốc luôn là mục tiêu theo đuổi của các nhà chính trị nước này xuyên suốt chiều dài lịch sử. Theo đó, “Đại thống nhất” (大統一, Grand unification) là nói sự thống nhất lãnh thổ quốc gia, và các địa phương trong một nước đều phục tùng sự lãnh đạo của một chính quyền trung ương. “Đại nhất thống” (大一統, Great unity) là nói trong một quốc gia phải thực hiện tập trung thống nhất cao độ về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, không cho phép có ý kiến khác với chủ trương đường lối của chính quyền trung ương.