Chương 1: Cơ sở lý luận về mở rộng hoạt động cho vay của tổ chức tài chính vi mô. Chương 2: Thực trạng mở rộng hoạt động cho vay tại Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV tình Thương Chi nhánh Thanh Hóa. Chương 3: Giải mở rộng hoạt động cho vay tại Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV tình Thương Chi nhánh Thanh Hóa. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 1.
Tổng quan về tài chính vi mô 1. Khái niệm tài chính vi mô Trong những thập kỉ gần đây, việc cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ hỗ trợ cho người nghèo nhằm tạo dựng cơ sở thu nhập, cải thiện điều kiện sống được các quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm phát triển. Thậm chí đã có đầy đủ những bằng chứng về các mô hình cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo thành công và được biết đến với cụm từ “tài chính vi mô”. Tương lai cho sự phát triển ngành này là rất rõ nét khi mà nó thu hút được đông đảo sự quan tâm của các Chính phủ, tổ chức đa phương, các nhà tài trợ và các doanh nghiệp.
Khái niệm về TCVM được rất nhiều nhà kinh tế và các tổ chức đưa ra. Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP), thì “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm.Ledgerwood, “TCVM là một phương pháp phát triển kinh tế thông qua các dịch vụ tài chính nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp…tài chính vi mô thường bao gồm cả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xã hội”. Còn theo quan điểm của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp hoạt động kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp nhỏ của họ”. Tổng hợp những khái niệm trên ta có thể hiểu TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư.
TCVM vừa là công cụ ngân hàng vừa là công cụ phát triển xã hội. (Nguyễn Kim Anh, 2010, trang 12) Vào cuối những năm 1980, cùng với quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, TCVM được du nhập vào Việt Nam thông qua hoạt động của các tổ chức 10 quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các chương trình hỗ trợ phát triển chính thức song phương và đa phương. Tất cả các chương trình đều có chung một mục tiêu là xóa đói giảm nghèo và bất bình đẳng thu nhập. Một số chương trình - dự án chỉ cung cấp các dịch vụ TCVM.
Trong khi có những chương trình, dự án thì TCVM là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong dự án hoặc là một công cụ xã hội nhằm hỗ trợ cho một nhóm đối tượng đặc thù trong một giai đoạn nhất định. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của trào lưu chung về phát triển TCVM thế giới, Việt Nam cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm. Có thể chia tiến trình phát triển TCVM ở Việt Nam theo 03 giai đoạn: (i) Giai đoạn khởi đầu (trước năm 1990); (ii) Giai đoạn mở rộng (từ năm 1991 đến năm 2005); (iii) Giai đoạn phát triển chiều sâu (từ năm 2005 đến nay). Sau gần 30 năm hoạt động, TCVM đã được nhìn nhận như một công cụ hữu hiệu thúc đẩy quá trình xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam.
Do đó, xây dựng và phát triển hệ thống TCVM an toàn, bền vững hướng đến phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ đã được Chính phủ đánh giá là một trong những mục tiêu trọng tâm đến năm 2020. Tổ chức tài chính vi mô Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp nhỏ. (Nguyễn Kim Anh, 2010, trang 13) Cho đến nay sau nhiều thập kỷ phát triển, tài chính vi mô (TCVM) đã khẳng định được vai trò và tầm quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo vì sự phát triển cộng đồng tại các quốc gia trên thế giới. Giống như những quốc gia đang phát triển khác, các tổ chức TCVM ở Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện điều kiện kinh tế của những hộ lao động nghèo, những người không thể nào tiếp cận được với những khoản vay từ các nguồn tín dụng chính thức.
Trong Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, thì lần đầu tiên tổ chức TCVM được xem là một loại hình tổ chức tín dụng chính thức. Theo thời gian, cơ chế hoạt động của các tổ chức TCVM ở Việt Nam ngày càng được cải thiện 11 và nâng cao. Đó là những sự phát triển và giá trị được tạo ra cho xã hội không thể bàn cãi được mang lại từ hoạt động của các tổ chức TCVM. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, các tổ chức TCVM vẫn phát sinh các vấn đề mà các cơ quan nhà nước cần đánh giá lại và cải thiện để có thể tối đa hóa giá trị tạo ra cho cộng đồng.
Mục tiêu chính của các tổ chức TCVM là nhằm mục tiêu tương trợ là chủ yếu thay vì mục tiêu lợi nhuận, đặc biệt là những tổ chức TCVM được tài trợ từ vốn nhà nước. Mục tiêu tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc huy động thêm nhiều nguồn vốn từ xã hội để gia tăng quy mô vốn của tổ chức để có thể hỗ trợ được cho nhiều người nghèo hơn là một mục tiêu chính đáng cần được phát triển. Các TCTCVM là thành tố và giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn. Về bản chất, các TCTCVM có vai trò “đôi” cả về tài chính và xã hội.
Về khía cạnh tài chính, thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ tài chính, các TCTCVM thực hiện các chức năng quan trọng là (i) huy động tiết kiệm; (ii) tái phân bổ tiết kiệm cho đầu tư, và (iii) tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ, trở thành một công cụ đắc lực để giảm nghèo đói và tăng thu nhập. Về khía cạnh xã hội, các TCTCVM tạo ra cơ hội cho người dân ở nông thôn – nhất là người nghèo- tiếp cận được với dịch vụ tài chính, tăng cường sự tham gia của họ vào cuộc sống cộng đồng nói chung, tăng cường năng lực xã hội của họ.3 Các loại hình tổ chức tài chính vi mô Các đơn vị cung cấp dịch vụ TCVM gồm 3 nhóm chính: Chính thức, bán chính thức và phi chính thức. Theo Nguyễn Kim Anh (2013, trang 14), Việt Nam hiện có 3 quan điểm khác nhau về tổ chức TCVM: Quan điểm thứ nhất cho rằng, tổ chức TCVM bao gồm tất cả các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM, kể cả ngân hàng, hợp tác xã tài chính, tổ chức tài chính (TCTC) quy mô nhỏ bán chính thức và chính thức; quan điểm thứ hai chỉ tập trung vào các TCTC quy mô nhỏ, kể cả chính thức và bán chính thức; quan điểm thứ ba cho rằng tổ chức TCVM “là loại hình TCTD chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp 12 ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ” (Luật TCTD, 2010, điều 4 khoản 5). Cũng theo Nguyễn Kim Anh (2011), mạng lưới cung ứng dịch vụ TCVM tại Việt Nam gồm 3 khu vực: Khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức.
Mặc dù cùng phục vụ cho một nhóm đối tượng khách hàng, nhưng mỗi khu vực lại có mục tiêu, tính chất hoạt động riêng.1: Các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính vi mô Khu vực chính thức Khu vực bán chính thức Khu vực phi chính thức - Các ngân hàng thương - Các hợp tác xã tín - Các hiệp hội tiết kiệm mại, đầu tư, tiết kiệm, dụng và tiết kiệm - Các hiệp hội tín dụng phát triển - Các hiệp hội tín dụng và tiết kiệm quay vòng - Các ngân hàng phục - Các ngân hàng nhân và biến thể của nó vụ nông thôn dân không đăng ký - Các công ty tài chính, - Các ngân hàng theo chính thức là TCTD đầu tư phi chính thức mô hình hợp tác xã - Các ngân hàng hợp tác - Những người cho vay - Các tổ chức phi ngân xã cá nhân thương mại: (ví hàng khác - Các quỹ tiết kiệm tạo dụ: người cho vay nặng - Các công ty tài chính việc làm lãi); và phi thương mại - Các tổ chức tiết kiệm - Các ngân hàng làng xã (họ hàng, bạn bè, hàng theo hợp đồng, Quỹ hưu không đăng ký chính xóm…) trí thức là TCTD - Các thương gia và chủ - Các công ty bảo hiểm - Các dự án phát triển, hiệu - Các thị trường (thị các tổ chức phi chính trường cổ phiếu, trái phủ cung cấp dịch vụ tài phiếu) chính vi mô - Các tổ chức tài chính - Các nhóm tương hỗ vi mô chính thức đăng ký theo luật TCTD (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Các đơn vị thuộc khu vực chính thức được Chính phủ ủy quyền và phải 13 tuân theo các quy định và sự kiểm soát của ngành ngân hàng. Các đơn vị bán chính thức tuy không phải tuân theo các quy định của hoạt động ngân hàng nhưng lại do các cơ quan chính phủ cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát của các cơ quan này, còn các trung gian tài chính phi chính thức hoạt động ngoài quy định và kiểm soát của chính phủ. Tuy vậy, số lượng ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường TCVM thường không nhiều do yêu cầu về quy mô và chi phí. Tại một số quốc gia đang phát triển, một số ngân hàng thương mại liên kết với các TCTCVM khác cung cấp một số dịch vụ cho khu vực nông thôn hoặc cung cấp dịch vụ cho chính TCTCVM như đảm nhận một phần trong nghiệp vụ tín dụng, chuyển tiền, gửi tiền, tư vấn và quản lý hộ.
Các ngân hàng này được gọi là ngân hàng liên kết.