CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp Cho vay là hoạt động quan trọng và có quy mô lớn nhất trong toàn bộ hoạt động của NHTM. Phần lớn nguồn vốn huy động được ngân hàng dùng để cho vay. Thu nhập từ hoạt động cho vay đóng góp lớn vào lợi nhuận của ngân hàng. Cho vay khách hàng doanh nghiệp là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Điều này không chỉ đúng với các nước đang phát triển mà còn đúng với cả những nước có thị trường tài chính phát triển. Cho vay doanh nghiệp chiếm khoảng 70% hoạt động cho vay của các ngân hàng. Để hiểu rõ hơn về mở rộng hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp, chúng ta sẽ tìm hiểu các khái niệm sau: Theo điều 4 Luật số 47/2010/QH12- Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2010: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Như vậy, cho vay khách hàng doanh nghiệp tại NHTM có thể hiểu là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao cho khách hàng doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích nhất định, xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.2 Các sản phẩm cho vay khách hàng doanh nghiệp Tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, nhu cầu vốn và uy tín của khách hàng đối với NHTM, cho vay khách hàng doanh nghiệp có rất nhiều hình thức khác nhau: 1.1 Căn cứ theo thời hạn vay - Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay dưới 12 tháng. Cho vay ngắn hạn thường để tài trợ cho vốn lưu động của doanh nghiệp.
- Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu để tài trợ cho mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất… 4 - Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên. Đây là loại hình được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà, sân bay, cầu đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu… 1.2 Căn cứ theo hình thức cho vay - Cho vay từng lần: áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn từng lần, khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên hoặc những khách hàng không đủ điều kiện để được cấp hạn mức cho vay - Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động thường xuyên, quá trình vay vốn, trả nợ diễn ra nhiều lần trong thời hạn của Hợp đồng tín dụng - Cho vay theo dự án đầu tư: NHTM cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Những dự án đầu tư bao gồm: đầu tư mới, mở rộng, sửa chữa, thay thế, nâng cấp và các dự án đầu tư khác theo quy định của NHTM trong từng thời kỳ - Cho vay hợp vốn: là hình thức mà NHTM cùng một hoặc nhiều tổ chức tín dụng khác cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng.
Hình thức cho vay này được áp dụng trong các trường hợp nhu cầu vốn của khách hàng vượt quá khả năng cho vay của một NHTM hoặc trong trường hợp NHTM xét thấy cần chia sẻ rủi ro hoặc các trường hợp cần thiết khác - Cho vay trả góp: áp dụng đối với khách hàng có nguồn thu nhập chắc chắn, ổn định. NHTM cùng khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn khoản vay - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: NHTM cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. NHTM và khách hàng thỏa thuận thời gian hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức trả cho hạn mức tín dụng dự phòng - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: NHTM chấp thuân khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của NHTM - Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc mà NHTM thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước Việt Nam về hoạt động 5 thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán 1.3 Căn cứ vào tài sản đảm bảo vốn vay - Cho vay có tài sản đảm bảo: Là cho vay dựa trên cơ sở đảm bảo như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Việc này nhằm hạn chế tổn thất cho Ngân hàng bằng cách thực hiện phát mại tài sản khi khách hàng không đủ khả năng thanh toán khi đến hạn.
Tài sản đảm bảo phải có giá trị lớn hơn giá trị của khoản vay. - Cho vay không có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp): Thường cho các khách hàng có uy tín cao, khách hàng truyền thống, tình hình tài chính lành mạnh, thường xuyên có lãi… 1.2 MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm mở rộng hoạt động cho vay - “Mở rộng” có thể hiểu một cách đơn giản đó là việc làm sao cho quy mô, số lượng hay phạm vi trở nên lớn hơn (theo từ điển tiếng Việt). Theo triết học, “mở rộng” là sự thay đổi tăng lên về lượng của một sự vật, hiện tượng cụ thể. Đối với các hoạt động kinh tế, “mở rộng” có thể là gia tăng số lượng sản phẩm dịch vụ, phát triển mạng lưới khách hàng rộng, gia tăng lượng tiêu dùng trên một khách hàng… Đối với các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thì “mở rộng” có thể là gia tăng số lượng các Chi nhánh, phòng giao dịch, đa dạng hóa các loại hình sản phẩm dịch vụ, gia tăng số lượng khách hàng, vv… - Mở rộng hoạt động cho vay có thể hiểu là hoạt động tăng số lượng khách hàng vay vốn, tăng dư nợ cho vay, tăng doanh số và tỷ trọng cho vay đối với một nhóm khách hàng nhất định của ngân hàng mà vẫn duy trì tỷ lệ rủi ro trong mức an toàn.
Như vậy mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của ngân hàng thương mại là việc ngân hàng tăng cường cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp về cả số lượng doanh nghiệp, tổng dư nợ, doanh số và tỷ trọng trong hoạt động cho vay chung của ngân hàng và giữ vững mức rủi ro cho phép.2 Sự cần thiết mở rộng hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp a. Đối với Ngân hàng Sự đối mặt với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong lĩnh vực Ngân hàng và trong hoạt động tín dụng đã buộc các Ngân hàng nước ta phải không ngừng đổi mới các hoạt động kinh doanh, đa dạng các hình thức huy động vốn, các loại hình tín dụng, tăng cường dịch vụ Ngân hàng hiện đại, mở rộng khách hàng, đổi mới hoàn thiện 6 phong cách phục vụ Ngân hàng.Trong đó, việc nghiên cứu mở rộng, đa dạng đối tượng khách hàng là một hướng đi quan trọng giúp Ngân hàng không những phân tán được rủi ro mà còn góp phần tăng trưởng lợi nhuận. Tiếp cận và cho vay đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thuộc phân khúc KHDN (doanh nghiệp lớn) đang là xu hướng phổ biến của các NHTM hiện nay bởi đây là đối tượng hết sức tiềm năng. Đứng trước những đối thủ cạnh tranh khổng lồ các Ngân hàng nước ngoài có tiềm lực vốn lớn, trình độ quản lý chuyên sâu và phong cách làm việc chuyên nghiệp, doanh nghiệp lớn đang là đối tượng được Ngân hàng trong nước tìm kiếm, khai thác, mở rộng quan hệ tín dụng.
Đối với doanh nghiệp Mở rộng tín dụng Ngân hàng sẽ giúp các doanh nghiệp có thêm cơ hội để tiếp cận vốn Ngân hàng, trong khi khả năng tiếp cận vốn Ngân hàng của doanh nghiệp lớn hiện nay còn gặp khá nhiều trở ngại, khó khăn. Được cấp tín dụng sẽ là một động lực quan trọng giúp doanh nghiệp lớn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng tính cạnh tranh – yếu tố quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế Một nền kinh tế được coi là khỏe mạnh khi từng tế bào vi mô phát triển nên nó phát triển khỏe mạnh. Việc mở rộng tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp lớn nói riêng góp phần làm cho luồng vốn được luận chuyển hiệu quả, đến những nơi đang thật sự khát vốn, một mặt thúc đẩy sự phát triển của chính các doanh nghiệp, mặt khác là cách thức để tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế và các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp lớn đối với nhà nước.
Ngoài ra việc mở rộng tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp lớn buộc các Ngân hàng phải phát huy tối đa năng lực của mình và tìm các biện pháp để có thể huy động vốn tăng cường tập trung, tích tụ những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, từ đó mọi nguồn lực về vốn đã được khai thác một cách tối ưu để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.3 Chỉ tiêu đo lường kết quả mở rộng hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp a. Chỉ tiêu dư nợ cho vay và tỷ lệ tăng dư nợ Dư nợ cho vay của ngân hàng là số tiền ngân hàng hiện đang cho khách hàng vay tính đến một thời điểm cụ thể. Số dư nợ càng lớn và dư nợ kỳ sau tăng lên so với kỳ trước là chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng hoạt động cho vay chính xác nhất. Bởi lẽ lợi nhuận mà ngân hàng có được từ hoạt động cho vay trong kỳ phụ thuộc vào dư nợ chứ không phải doanh số cho vay.