CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm của khách hàng cá nhân Theo Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định hai loại chủ thể quan hệ dân sự là: Cá nhân và pháp nhân. Theo đó, các tổ chức không có tư cách pháp nhân như hộ gia đình, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân không còn được phép giao dịch với tư cách của chính nó nữa, mà phải giao dịch với tư cách của một hoặc nhiều cá nhân là thành viên tổ chức.
Như vậy có thể hiểu Khách hàng cá nhân của Ngân hàng là một người độc lập hoặc một người, một nhóm người đại diện cho các tổ chức không có tư cách pháp nhân sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Đặc điểm của KHCN: Quy mô: Khách hàng cá nhân có số lượng lớn, chiếm phần lớn trong cơ cấu khách hàng của hầu hết các doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy mô mỗi khách hàng cá nhân thường nhỏ, giá trị đơn hàng thấp hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Hành vi: Khách hàng cá nhân thường dựa trên nhu cầu cá nhân, sở thích, cảm xúc và giá cả để quyết định mua hàng.
Họ cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tâm lý, văn hóa, xã hội, môi trường,. Lòng trung thành: Lòng trung thành của khách hàng cá nhân thường thấp hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Họ dễ bị thu hút bởi các sản phẩm mới, giá rẻ hoặc các chương trình khuyến mãi hấp dẫn. Khách hàng cá nhân có thói quen mua sắm đa dạng, từ mua hàng trực tiếp tại cửa hàng đến mua sắm trực tiếp, đặc biệt là trong thời đại công nghệ số như hiện nay, Nhu cầu: Nhu cầu của khách hàng cá nhân rất đa dạng, bao gồm nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ, giá cả, chất lượng, thương hiệu,.
Nhu cầu 6 của họ thường thay đổi theo thời gian, theo xu hướng thị trường và các yếu tố khác như tuổi tác, giới tính, thu nhập. Khái niệm, đặc điểm, phân loại của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Trong thực tế, trong một nền kinh tế thị trường, thường có những nguồn vốn sẵn có - còn được gọi là bên thừa vốn - là những người có nguồn tiền nhàn rỗi và chưa có mục đích sử dụng. Ngược lại, cũng có những người, những cá nhân, những doanh nghiệp đang rất có nhu cầu cần vốn - gọi là bên thiếu vốn - để tháo gỡ khó khăn trong quá trình kinh doanh hay khi muốn thực hiện các dự án đầu tư, tiêu dùng khác.
Điều này tạo ra một mối quan hệ kinh tế giữa bên thừa vốn và bên thiếu vốn, trong đó, tín dụng ngân hàng thường được coi là một công cụ để giải quyết mâu thuẫn về cung và cầu về vốn tiền tệ. Theo thông tư số 39/2016/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2016) định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Cho vay KHCN tại NHTM là hoạt động của cung cấp các sản phẩm dành cho cá nhân, nhằm hỗ trợ họ thực hiện các mục tiêu tài chính cá nhân hoặc gia đình dưới dạng khoản vay. Trong quá trình này, khách hàng sẽ ký một hợp đồng vay với một thời gian nhất định, điều khoản về việc trả lại số tiền vay gồm cả gốc và lãi, các khoản phí khác nếu có. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân - Quy mô của hợp đồng cho vay nhỏ dẫn đến chi phí vay cao: Vì nhu cầu tài chính của KHCN thường xoay quanh các mục đích hàng ngày và cụ thể như mua sắm, du lịch, học vụ, hoặc chi phí y tế… nên quy mô khoản vay thường nhỏ.
Mà điều này sẽ làm tăng chi phí vay do ngân 7 hàng phải tiêu tốn nhiều tài nguyên và chi phí cho việc xác định tín dụng, xử lý hồ sơ, và quản lý rủi ro cho các khoản vay này, từ đó dẫn tới doanh thu từ mỗi hợp đồng nhỏ giảm đi đáng kể. Thứ hai, do tính nhỏ gọn của các khoản vay, rủi ro tín dụng thường cao hơn do khả năng thanh toán không cao khiến cho ngân hàng phải tính toán mức lãi suất cao hơn để bù đắp cho rủi ro. Nói tóm lại, bên cạnh những lợi ích tài chính mà khoản vay của KHCN đem lại thì việc quản lý và cung cấp các khoản vay nhỏ đôi khi đối mặt với chi phí cao và rủi ro tăng cao cho ngân hàng. - Cho vay KHCN có tính nhạy cảm theo chu kỳ: Trong mỗi chu kỳ kinh tế có thể xảy ra rất nhiều biến động về mức độ lạm phát, lãi suất và tỷ lệ thất nghiệp.
Những biến động này sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và khả năng vay của khách hàng. Chẳng hạn, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên dẫn đến việc giảm thu nhập và tăng nguy cơ mất việc, làm suy giảm khả năng thanh toán của khách hàng. Điều này làm tăng nguy cơ rủi ro cho ngân hàng khi cho vay. Ngoài ra, hành vi tiêu dùng của KHCN cũng có thể biến đổi theo chu kỳ, ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn.
Ví dụ, trong các mùa mua sắm như dịp lễ, cuối năm hoặc mùa hè, nhu cầu vay tiêu dùng có thể tăng lên do các hoạt động mua sắm và du lịch. Trong khi đó, vào các thời kỳ khó khăn hoặc sau những sự kiện không lường trước như đại dịch, nhu cầu vay có thể giảm do sự cẩn trọng trong chi tiêu của khách hàng. - Nhu cầu vay KHCN ít co giãn về lãi suất: Trong thực tế, KHCN thường không phản ứng mạnh mẽ với sự thay đổi của lãi suất so với các doanh nghiệp. Nguyên nhân chính là do nhu cầu vay của họ thường không phải là để đầu tư lớn hoặc thay đổi dự án kinh doanh, mà thường là để chi tiêu hàng ngày, mua sắm tiêu dùng, mua nhà, hoặc đầu tư vào giáo dục, tạo ra một nhu cầu vay ổn định, ít phụ thuộc vào lãi suất.
Tuy nhiên, tình trạng này cũng tạo ra những thách thức cho ngân hàng 8 trong việc quản lý rủi ro và thiết lập lãi suất. Mặc dù lãi suất tăng có thể làm giảm một số loại hoạt động vay như mua nhà hoặc mua ô tô, nhưng đối với các khoản vay như vay tiêu dùng, nhu cầu vay vẫn có thể duy trì ổn định. Điều này đặt ra thách thức trong việc thiết lập lãi suất sao cho cả ngân hàng lẫn khách hàng đều hài lòng và đảm bảo sự cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro. - Nguồn trả nợ có thể bị biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau: Nguồn trả nợ của KHCN thường không ổn định do bị phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: chu kỳ nền kinh tế, cơ cấu kinh tế, thu nhập của khách hàng, trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng của khách hàng, sự cố bất thường của khách hàng hoặc tư cách của người đi vay.
Đây là một đặc điểm không thể tránh khỏi trong hoạt động cho vay KHCN, và đòi hỏi sự linh hoạt và cảnh giác từ phía ngân hàng để quản lý rủi ro và đảm bảo sự ổn định của hoạt động cho vay. - Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định: Tư cách ở đây đề cập đến khả năng và ý định của khách hàng trong việc trả nợ đúng hạn và đầy đủ. Mặc dù có một số yếu tố có thể giúp đánh giá tư cách của khách hàng như lịch sử tín dụng tích cực, thu nhập ổn định và khả năng chi tiêu có tỉ mỉ, nhưng việc đánh giá tổng thể vẫn đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng. Đôi khi, các ngân hàng cũng sử dụng phương pháp stress testing để kiểm tra khả năng của khách hàng trong các tình huống không lường trước, như thất nghiệp hay chi phí y tế đột ngột.
Tuy nhiên, với sự biến động và đa dạng của cuộc sống, việc đánh giá tư cách vẫn là một thách thức đối với các ngân hàng, nhưng cũng là một bước quan trọng để đảm bảo rằng chỉ những khách hàng có khả năng và ý thức trong việc trả nợ mới được phê duyệt cho vay. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân - Căn cứ vào mục đích sử dụng: (1) Cho vay cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu 9 mua sắm, xây dựng hoặc/và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình. (2) Cho vay phi cư trú: Là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch. - Căn cứ vào phương thức hoàn trả: (1) Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay trong đó người đi vay trả nợ (Gồm cả gốc và lãi) cho ngân hàng thành nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời gian vay.
(2) Cho vay phi trả góp: Tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng một lần khi đáo hạn. Thường thì khoản vay phi trả góp được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ và thời hạn vay không dài. (3) Cho vay tuần hoàn: Là các khoản cho vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. - Căn cứ vào nguồn gốc cho vay: (1) Cho vay trực tiếp: Là các khoản cho vay trong đó ngân hàng thương mại trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này (2) Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người vay.
Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân - Đối với khách hàng: Việc cho vay giúp khách hàng thực hiện các mục tiêu lớn trong cuộc sống, như mua nhà, mua ô tô, hoặc đầu tư vào giáo dục của con cái: nhờ có được số vốn đầu tư lớn từ ngân hàng, khách hàng có thể thực hiện những dự án lớn một cách linh hoạt và tiện lợi hơn, thay vì phải chờ đợi và tích lũy từng đồng một.